Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2016

Bệnh chết cây non

Dấu hiệu nhận biết của bệnh chết cây con khá rõ ràng, đoạn thân ngang mặt đất bị thối nhũn làm cho cây con bị gãy gục, lá cây bị nhiễm bệnh héo rũ. Bệnh này có khả năng lây nhiễm cao nên có thể gây chết toàn bộ vườn rau.


Nguyên nhân gây ra bệnh đã được rất nhiều nghiên cứu đề cập, trong đó, nguyên nhân chính là do các loại nấm gây bệnh bao gồm các loài ký sinh trên hạt như rhizoctonia sp., fusarium sp., phytophthora sp., và các loài tiềm sinh trong đất như pythium sp.. Chúng mọc và phát triển mạnh trong điều kiện môi trường có độ ẩm cao và có dải nhiệt độ sống dài từ 12-350C. Do đó, ở nước ta, bệnh không chỉ xảy ra ở vụ hè mà có thể diễn biến ở các cây vụ đông nên bà con cần chú ý phòng ngừa. Ngoài ra, bào tử nấm có thể sống trong đất trồng, trên vỏ hạt, và có thể lây nhiễm qua dụng cụ gieo trồng nên bệnh có thể dễ dàng lây lan với tốc độ rất nhanh.

Nguồn nấm bệnh có thể tiềm ẩn sẵn trong đất đai hay trong giá thể trồng không sạch. Ngoài ra, nguồn bệnh có thể do nấm vụ trước truyền nhiễm tiếp cho vụ sau hoặc khi gieo trồng, bà con không đánh tơi đất, kết cấu đất nén chặt, khó thoát nước, đây cũng là một trong những nguồn gốc sinh bệnh. 

Để phòng ngừa. bạn cần xử lý đất trồng trước khi gieo hạt, việc này giúp cho các nguồn nấm, vi sinh gây bệnh tiềm ẩn trong đất bị loại bỏ. Hạt giống trước khi gieo cũng nên được tiền xử lý bằng Rovral 50WP hoặc Aliette 80WP để trừ nấm bệnh. Trong quá trình gieo trồng, nên sử dụng phân hữu cơ vi sinh hoặc phân chuồng có bổ sung chế phẩm bột nấm Trichoderma sp. để ngăn ngừa và diệt nguồn nấm bệnh lưu tồn trong phân khi gieo ươm cây non. Bên cạnh đó, vườn ươm hạt giống cũng cần đảm bảo thoáng khí, không bị mưa hắt hoặc dính mưa trực tiếp, cần chọn đất cao và không bị đọng nước. Việc điều chỉnh lượng tưới cũng rất quan trọng, đối với những ruộng rau ngoài trời, trước những ngày mưa bão cần tiến hành đào các rãnh thoát nước, xới tơi đất và nhổ cỏ để tránh bị đọng nước do mưa, còn đối với những hộ trồng cây trong nhà kính, cần tính toán lượng nước tưới cẩn thận để không tưới quá nhiều. 
SonSonBio

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2016

Phân biệt Bồ đề và Lâm vồ

Bồ đề và Lâm vồ là hai giống cây thuộc cùng một chi, chúng có hình dạng gần giống nhau nên rất nhiều người nhầm lẫn hai loại cây này. Ở bài viết này, mình sẽ giúp các bạn phần nào phân biệt được hai loài cây này.

Trước tiên, chúng ta cần biết sơ qua về các đặc điểm của Bồ đề và Lâm vồ. Cây Bồ đề (Ficus religiosa), là một cây thuộc chi đa đề (Ficus), cây có nguồn gốc từ Ấn Độ và sau đó, đi theo các nhà sư tới các nước khác như Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia. Đây là một loài cây rụng lá về mùa khô. Cây cao nhất có thể cao tới 30m với đường kính thân tới 3m. Gỗ Bồ đề nhẹ, mềm và đều, ít cong vênh, dễ xẻ nên được ứng dụng rất nhiều trong công nghiệp giấy, làm diêm, nhựa Bồ đề còn được sử dụng trong công nghệ thực phẩm và sản xuất nước hoa.
Trong tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo, Bồ đề được xem là giống cây linh thiêng, nơi mà Đức Phật Thích Ca Mầu Ni giác ngộ. Ngoài ra, đây cũng là giống cây tiên phong trong phát triển hệ sinh thái rừng, đòi hỏi nhiều ánh sáng, chịu rét tốt nên cây còn được nhiều người tượng trưng cho sự can trường, đi tiên phong trong các vấn đề.

Khác với Bồ đề, cây Lâm vồ là loài cây được trồng phổ biến ngoài đường phố, các quảng trường, khuôn viên, ngõ xóm và có thể ở trong khuôn viên nhiều chùa Phật giáo,… Cây có tên khoa học là Ficus rumphii, phân bố rộng rãi ở nhiều nước Đông Nam Á.

Do nằm trong cùng chi phân loại nên Lâm vồ có rất nhiều điểm tương đồng với Bồ đề. Cách dễ nhất để phân biệt hai giống cây này là dựa vào hình thái lá. Lá Bồ đề có mũi kéo dài thành chuỗi kim hình cong, dài 2-4 cm, hệ gân nổi rất rõ, gồm nhiều cặp gân bên gần song song và mọc gần đối. Phiến là dày với mặt trên bóng láng, mép gợn sóng, cuống lá dài tương đương chiều dài phiến lá. Trong khi đó, lá Lâm vồ có mũi nhọn 1-2 cm, hệ gân ít nổi rõ, các cặp gân bên thưa, mặt trên phiến lá thường không bóng láng, mép phiến lá không gợn sóng, cuống lá thường ngắn hơn phiến.
Hy vọng bài viết trên đây đã phần nào giúp các bạn phân biệt được hai giống cây bonsai thường gặp này. 

SonSonBio

Thứ Sáu, 25 tháng 11, 2016

Bạch chỉ- Cây thuốc vườn nhà


Danh pháp khoa học: Angelica dahurica (Họ Hoa tán- Apiaceae)

Cây còn được biết đến dưới những cái tên Bách chiểu, Chỉ hương, Cửu lý trúc căn, Đỗ nhược, Hòe hoán, Lan hòe, Linh chỉ,…Cây là thảo dược sống được nhiều năm, nhưng là cây thân thảo, cao khoảng 1,5 m khi cây ra hoa. Thân cây to, trong, bên trong thì rỗng. Phần phiến lá xòe thẳng, có nhiều nhánh. Cây ra hoa trong khoảng từ tháng 5- 8, hoa mọc thành cụm hình tán, gồm nhiều hoa đẹp, thơm, màu trắng. Đây là giống hoa thuần Á, mọc tốt ở cả đồng bằng và miền núi nên có thể tìm thấy trong các bụi cỏ dại hoặc được trồng để làm cảnh hoặc làm thuốc.

Trong các loại dược thảo chữa bệnh, loài cây này được xếp trong danh mục những cây thuốc quý dùng để chữa nhiều bệnh.Theo y học cổ truyền, cây bạch chỉ được sử dụng để trị phụ nữ bị lậu hạ, xích đới, huyết bế, âm đạo sưng, nóng lạnh, đầu phong, chảy nước mắt, cơ nhục sưng. Không chỉ có tác dụng đối với các bệnh phụ nữ, cây còn được chỉ định để điều trị phong tà, nôn mửa, đau đầu, chóng mặt; trị xoang mũi, hay chảy máu cam; đối với phụ nữ bị băng huyết, tiểu ra máu, lưng đau, bụng đau, ói nghịch, các bác sĩ cũng thường kê vị thuốc này trong toa thuốc cho bệnh nhân. Liều dùng thường chỉ giới hạn trong khoảng 4-8 g.

Mặc dù có nhiều tác dụng dược lý, nhưng theo các bác sỹ đông y, không nên sử dụng bạch chỉ khi bệnh nhân bị nôn mửa do hỏa; nhức đầu do huyết hư, hỏa vượng; âm hư, huyết nhiệt; đau đầu do huyết hư, ung nhọt đã vỡ mủ; kỵ tuyền phúc hoa; ức chế Hùng hoàng, Lưu hoàng. Bạch chỉ có một tác dụng phụ là gây tổn thương khí huyết, không nên cho bệnh nhân dùng nhiều.

Bà con nên gieo trồng cây bạch chỉ từ tháng 9-11 hàng năm. Trước khi trồng, bạn nên xử lý hạt bằng cách ngâm trong nước ấm (35-400C), sau đó cho vào khăn ấm để ủ cho tới khi nảy mầm mới đem trồng trên đất. Khi cây mọc được 2 lá thì bạn bón bổ sung phân đạm. Sau 25 này thì tiến hành bón thúc. Trong quá trình trồng, cần thường xuyên làm cỏ, tỉa bớt cành úa, lá vàng.

Sau khi trồng được 6-7 tháng, bà con có thể thu hoạch để chế biến thành dược phẩm. Bộ phận được thu hoạch ở đây là toàn bộ phần rễ và một phần dưới của thân.


SonSonBio

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016

Bệnh thối đít ở Cà chua (Blossom- end Rot - BER)


Đây là một bệnh khá phổ biến ở cà chua, nguyên nhân chủ yếu là do hàm lượng Can-xi trong đất không đủ đáp ứng cho cây trong thời kỳ ra quả. Đây được xem một trong những bệnh sinh lú gây hại phổ biến và có thể có thể ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng nông sản trồng nên bà con cần chú ý phòng ngừa sớm.

Bệnh rất dễ nhận diện vì đặc trưng của bệnh là gây tổn thương ở phần cuối trái ngay khi trái còn xanh hay đã chín. Vết loét này có màu hơi sậm, thường không lan rộng ra toàn quả nhưng lại ăn sâu và bên trong quả rất nhanh.

Nguyên nhân của bệnh này vẫn chưa được làm sáng tỏ, rất nhiều các chuyên gia đưa ra những quan điểm trái chiều về hiện tượng này.

Nếu cà chua được trồng trên nền đất có độ ẩm ở mức thấp và ổn định trong thời gian dài, chúng sẽ tự điều chỉnh mức độ sinh trưởng của bản thân và thường sẽ không phát triển bệnh thối đít trái. Tuy nhiên, nếu trồng cà chua trong điều kiện độ ẩm trung bình, liên tục hoặc tăng độ ẩm một cách đột ngột, cây có thể phát triển rất nhanh, ra quả sớm nhưng cây sẽ dễ dàng mắc nhiều loại bệnh, đặc biệt là BER. Nhiều ý kiến cho rằng, tỷ lệ mắc bệnh còn liên quan đến độ thoáng của khu vực trồng.

Bên cạnh các yếu tố như thay đổi độ ẩm và độ thoáng, nhiều chuyên gia còn biết, yếu tố dinh dưỡng cũng rất có thể là nguyên nhân dẫn đến các triệu chứng của bệnh. Nếu cung cấp dư thừa Ni-tơ sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh thối đít trái cũng như một số bệnh khác. Sự thiếu hụt Can-xi là một yếu tố quan trọng gây ra tình trạng bệnh lý này.Hiện nay, hầu như cứ nói đến bệnh thối đít trái là mọi người đều nghĩ đến giả thiết này, nhưng thực nghiệm cho thấy, trong một số trường hợp, dù đã bón đầy đủ vôi và có phun Can-xi đầy đủ nhưng hiện tượng thối đít cà chua vẫn xuất hiện.

Để kiểm soát bệnh, bà con nên thực hiện những bước sau:
-       Giữ pH của đất ở mức 6.0 – 6.5. Thường xuyên kiểm tra đất và bổ sung lượng vôi nếu cần thiết, Việc bón vôi nên được thực hiện trước khi trồng 1-2 tháng.
-       Nếu có thể, bà con nên gửi mẫu đất đến các viện nghiên cứu để xác định các chỉ số đất và nhận các hướng dẫn đầy đủ để đảm bảo lượng bón là phù hợp.
-       Bà con cũng nên chú ý đến chế độ tưới, cần duy trì lượng tưới vừa phải và đều đặn, không nên đột ngột tăng lượng tưới để thúc cây ra quả hay tăng tốc độ sinh trưởng.
-       Khi phát hiện các dấu hiệu của bệnh, cần phun bổ sung lượng Can-xi với tỷ lệ 500g Can-xi nitrat hoặc Can-xi clorua trên 100 lít nước. Bà con nên thận trọng khi sử dụng Can-xi clorua, trong những ngày trời nóng, nhiệt độ từ 29-320C, Canxi-clorua có thể gây cháy lá và rất dễ gây chết cây. Nên tưới bổ sung Can-xi khoảng 2-3 lần một tuần.
-       Nên chú ý, một số giống cà chua có xu hướng nhạy cảm với bệnh thối đít trái, bà con nên cẩn trọng trong việc chọn mua giống, không nên sử dụng các loại hạt không có nguồn gốc rõ ràng.
-       Cần hái bỏ những trái đã bị thối đít bởi chúng có thể tạo môi trường cho các loại vi khuẩn, nấm ký sinh gây bệnh khác phát triển và lây lan cho các cây và trái khác.
SonSonBio
Nguồn:

Dr. Joe Kemble, Extension horticulturist, Alabama Cooperative Extension System (334) 844-3050

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2016

HOA ÁNH HỒNG


Danh pháp khoa học: Pachyptera hymenaea (DC.) (Họ Đinh- Bignoniaceae)

Cây còn được biết đến dưới cái tên hoa tỏi, hoa lan tỏi, hoa bâng khuâng. Cây có nguồn gốc từ Mexico và được trồng phổ biến ở miền Nam nước ta, là một cây cảnh có hoa đẹp, trồng làm hàng rào hay uốn cổng biệt thự. Trong công viên một giàn cây Ánh hồng nở đầy hoa sẽ là điểm nhấn để mọi người nhìn ngắm.

Về hình thái cây, cây có dạng thân leo, mọc chậm, đặc biệt là khi trồng vào mùa khô. Cây leo có hoa mọc thành chùm to, hoa to hình ống dài, chia thành 2 môi xếp sát nhau, môi trên có 2 thùy, môi dưới có 3 thùy, các thùy gần như bằng nhau, nhị 4, mỗi nhánh mang 3 hoa màu tím hồng nhạt khác nhau. Hoa mềm, dễ rụng và có mùi giống tỏi, hắc nồng. Mùa hoa ngắn, nở rộ vào đầu mùa đông hay giữa mùa hè. Lá có 2 đôi lá phụ, mọc đối, dày và nhẵn. Điểm đặc biệt của cây là mặc dù ra hoa rất nhiều nhưng do hoa dễ bị nát nên thường hiếm khi kết được quả.

Đây là một giống cây dễ trồng, dễ uốn, mọc khỏe và nảy chồi nhanh nên thích hợp để trồng làm hàng rào trong nhà, trong công viên, hoặc làm giàn leo trong vườn gia đình. 


SonSonBio


Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2016

Cách sử dụng phân vi sinh hiệu quả



Phân vi sinh là loại phân được làm từ các phụ phẩm nông nghiệp, sau đó được các vi sinh vật đặc biệt lên men, phân giải các thành phần hữu cơ mà cây khó hấp thụ thành các chất dễ hấp thụ hơn. Việc bón phân vi sinh không chỉ cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng mà còn cung cấp một lượng lớn vi sinh vật cho đất, khiến đất vườn thêm màu mỡ.

Thông thường, bà con thường sử dụng các loại phân hóa học để bón cho cây trồng do chúng chứa các chất cần thiết cho cây trồng và có thể sử dụng ngay, không cần qua các công đoạn phức tạp như ủ, lên men, sấy. Nhưng khi sử dụng phân hóa học trong thời gian dài sẽ khiến nông sản bị tích tụ các độc tố, đặc  biệt là NO3tích tụ trong sản phẩm. Bên cạnh đó, theo kinh nghiệm trồng cây của các nhà vườn thì việc bón phân hóa học sẽ làm giảm chất lượng đất. Trong 1-2 năm đầu, có thể cây sẽ cho nhiều quả và có chất lượng cao, nhưng đến năm thứ ba thì năng suất giảm hẳn, và phải cải tạo lại đất thì mới có thể sử dụng tiếp được. Nguyên nhân của hiện tượng này là do các vi sinh vật trong đất bị nhiễm độc của phân hóa học trong thời gian dài và bị chết, nên đất không có lượng chất hữu cơ bổ sung và dễ bị bạc màu. Trong khi đó, nếu sử dụng phân vi sinh, bà con có thể thay thế được lượng phân đạm, phân lân hóa học từ 50-100% tùy theo loại cây trồng. Ngoài ra, khi bón phân vi sinh, chúng ta đã cung cấp vào đất lượng vi sinh vật phân giải đạm, lân từ lá cây rụng hay xác các loại côn trùng, sinh vật chết. Điều này khiến cho đất được bổ sung lượng mùn thường xuyên và làm dày thêm tầng đất có cấu tượng, hạn chế hiện tượng thoái hóa, bạc màu của đất. Hơn nữa, các nghiên cứu đã cho thấy, khi sử dụng phân vi sinh, nông sản không bị nhiễm độc, lượng độc tố NO3tồn dư trong sản phẩm giảm đáng kể.

Bên cạnh những lợi ích mà phân vi sinh đem lại, về giá thành, sản phẩm này giúp bà con tiết kiệm được chi phí sản xuất do chúng có thể được chế biến thủ công tại nhà hoặc theo quy mô công nghiệp. Trên thị trường, so với các loại phân hóa học, đặc biệt là phân ure thì phân vi sinh rẻ hơn rất nhiều. Do đó, nâng cao hiệu quả kinh tế mùa vụ cho bà con.

Một nhược điểm của phân vi sinh là thời gian tác dụng của nó thường chậm hơn phân hóa học nên đối với các cây ngắn ngày, như cải thìa, cải đắng, cà chua bi,… bà con nên sử dụng để bón lót. Các loại cây thu hoạch theo mùa vụ thì sau mỗi đợt thu hoạch cần bón bổ sung. Phân có thể được sử dụng để bón cho hầu hết tất cả các loại cây trồng, từ cây ăn quả, chè, lúa, ngô, rau xanh cho đến cây cảnh, cây công nghiệp. Thời gian bón tốt nhất là 2 thời kỳ mưa xuân (tháng 3-4) và mưa ngâu (tháng 7-8) để tận dụng độ ẩm của thời tiết, giúp các vi sinh vật hoạt động tốt hơn.


Đối với cây ăn quả, cây công nghiệp, hay cây cảnh lâu năm, mọi người nên bón theo hình chiếu tán cây. Đầu tiên, bà con cuốc và xới nhẹ vùng đất xung quanh gốc, rắc phân lên và lấp lại với liều lượng từ 1-2 kg/gốc cây hoặc bón với độ dày lớp phân từ 1-2 cm. Với cây chè, nên bón vào rãnh giữa 2 luống chè với lượng 0.2-0.3 kg/gốc. Với các cây rau xanh, phân vi sinh chủ yếu để bón lót với lượng 10-15 kg/sào Bắc bộ và có thể thay thế từ 50-100% lượng phân ure và phân lân. Với rau ăn lá, việc sử dụng phân vi sinh có thể giảm được 50% phân hóa học, các loại rau ăn củ có thể thay thế được 70% và có thể thay thế 100% phân hóa học đối với các loại cây ăn quả. Đối với cây cảnh, bà con nên trộn 1kg phân vi sinh với 2-3 kg đất để bón cho 10 chậu cây và cần giữ ẩm để phân vi sinh phát huy tác dụng.

SonSonBio

Thứ Năm, 27 tháng 10, 2016

Hoa Tiên Khách Lai

Danh pháp khoa học: Cyclamen persicum (Họ Trân châu- Primulaceae)
Cây còn được biết đến với cái tên Hoa Anh Thảo, Tiên hồng Ba Tư, Cây hoa lật, Hoa Tai thỏ, Hải đường Rau cải.

Về hình thái, cây có lá hình tim ,màu lục thẫm, có ánh bạc ở giữa. Hoa có màu hồng, đỏ, hồng cam, tím, trắng,… tùy giống. Cánh hoa trơn láng. Hoa mọc trên những cuống dài màu hồng nhạt, cánh hoa trông gần như bẻ gập xuống sát với cuống hoa. Một đặc điểm nhận biết khá đặc thù của giống hoa này là lá có các đốm hình móng ngựa rất đặc biệt, chúng được các nhà thực vật học cho là một dạng ngụy trang để giảm khả năng bị động vật gặm nhấm ăn.

Mùa ra hoa: mùa thu, mùa đông và đầu xuân. Hoa sống tới 4- 6 tuần ở những nơi có khí hậu mát và kín gió. Cây trồng bằng hạt hoặc trồng bằng củ hành, lấp đất phủ một nửa củ. Đây là một giống cây có chế độ ngủ hè, với các thân củ trên mặt đất hay mọc ngầm dưới đất, khi đến mùa mới sinh lá. Đây là một đặc điểm thích nghi tự nhiên với khí hậu hè khắc nghiệt của khu vực Địa Trung Hải nhằm tránh bị mất nước.

Giống hoa này có nguồn gốc từ khu vực Trung Đông và Địa Trung Hải. Cây ưa nắng dịu và bóng râm, đất ẩm vừa, không giữ nước, nhiều mùn, trung tính hoặc hơi chua, cần thường xuyên ngắt bỏ lá úa và hoa tàn.

Tiên khách lai được trồng làm cảnh trong chậu, trong phòng ẩm, ngoài vườn, công viên, … hoặc hoa cắm trong lọ cũng tươi được lâu. Củ anh thảo có thể xay thành bột làm bánh hoặc nuôi gia súc. Người ta quan niệm rằng Tiên khách lai mang ý nghĩa nhút nhát, thiếu tự tin vì nó chưa bao giờ hướng về phía Mặt Trời. Người xưa thì cho rằng trồng loài hoa này quanh nhà để tránh điềm gở. Trong phong thủy, người ta cho rằng, loài hoa này có thể chào đón khách quý và vận may đến nhà, và được xem là vua của các loài hoa trong chậu.

Phạm Ngọc Sơn