Thứ Tư, 23 tháng 9, 2015

Tổng quan về định lượng phát quang hóa học và phát quang sinh học

A. Lý thuyết chung

1. Phát quang hóa học và phát quang sinh học

Phương pháp định lượng phát quang hóa học và phát quang sinh học là hai phương pháp được sử dụng rộng rãi trong những năm gần đây. Phương pháp này được dùng để xác định hàm lượng một thành phần nào đó có trong mẫu, đặc biệt là trong nghiên cứu sự biểu hiện và điều hòa hoạt động của gene. Phát quang hóa học dựa trên khả năng phát ra ánh sáng của phản ứng hóa học, trong khi phát quang sinh học cũng là một dạng phát quang hóa học nhưng ánh sáng do các enzyme khi hoạt động phát ra.
Việc đo ánh sáng phát ra từ phản ứng rất cần thiết trong việc xác định nồng độ các chất do tỷ lệ ánh sáng đi ra liên quan trực tiếp đến nồng độ các chất phát quang có trong mẫu. Do đó, khả năng phát quang được xem như dấu chuẩn để xác định nồng độ các chất có trong mẫu.

2. Thế mạnh của phương pháp

Phương pháp định lượng phát quang là kỹ thuật phân tích được sử dụng để đo lường các chất phát quang sinh học và phát quang hóa học. Phương pháp này đem lại nhiều lợi ích cho người dùng hơn so với các phương pháp khác như độ nhạy cao, dải tần nhạy sáng (dynamic range) rộng, không mất nhiều chi phí cho thiết bị, và cùng với sự phát triển của các thí nghiệm về định lượng, phương pháp này đã trở nên phổ biến và thông dụng.
Độ nhạy cao và độ chênh lệch đường nền thấp hơn so với các phương pháp phân tích khác. Định lượng phát quang có độ nhạy cao hơn 100,000 lần so với phương pháp quang phổ hấp thụ và gấp 1000 lần so với quang phổ huỳnh quang. Một thiết bị đo độ phát quang tốt có thể phát hiện ra 0,6 pg adenosine triphosphate (ATP)  hay 0,1 fg enzyme luciferase, đây là hai chất phát quang phổ biến. Hình 1a và 1b cho thấy giới hạn phát hiện phản ứng ATP/luciferin-luciferase.














Phạm vi động rộng và chi phí thiết bị thấp cũng là thế mạnh của phương pháp này. Các mẫu có thể được đo với độ đặc 10x mà không cần phải pha loãng hay thay đổi lỗ đo. Hình 2 cho chúng ta thấy việc đo mẫu luciferase với độ đặc 5x khi sử dụng thiết bị định lượng phát quang Turner Design’ TD- 20/20.Trong phương pháp định lượng phát quang, có hai thông số về ánh sáng quan trọng. Đầu tiên là thông số về độ phát quang mẫu, thông số này tỷ lệ với nồng độ của chất phát quang có trong phản ứng hóa phát quang. Thông số thứ hai, được xem như đường nền và có thể biến động nhẹ do các yếu tố bên ngoài như hiện tượng lân quang của chất dẻo, hay các tạp chất trong thành phần phản ứng, ... nhưng cường độ ánh sáng đường nền của phương pháp này được đánh giá là vẫn nhỏ hơn rất nhiều so với các phương pháp khác như quang phổ hấp thụ và quang phổ huỳnh quang.

Một điểm cần chú ý nữa, việc sử dụng phương pháp định lượng phát quang ngày càng trở nên phổ biến trong nghiên cứu và đánh giá chất lượng. Các thành tựu của sinh học phân tử và nhu cầu ngày càng tăng của các thí nghiệm có độ nhạy cao đã mở rộng các hướng ứng dụng của hệ thống định lượng phát quang như nghiên cứu di truyền, công nghệ thực phẩm và kiểm soát môi trường.



3. Detector

Detector là một bộ phận cực kỳ quan trọng trong máy đo độ phát quang, khả năng định lượng cũng như độ nhạy của máy. Diốt quang và ống nhân quang (PMTs) là các detector phổ biến và được dùng trong các máy đo cường độ phát quang thông thường. Dòng diốt quang vẫn được cải tiến để phù hợp với nhiều mục đích sử dụng, trong khi PMTs vẫn được xem là sự lựa chọn tốt nhất khi tiến hành các thí nghiệm đo ánh sáng có cường độ thấp.
Ống nhân quang có tác dụng khuếch đại dùng photo yếu. Ống gồm photocatot, các cực trung gian và một anot (Hình 3). Dòng photo yếu đập vào photocatot làm phát xạ dòng electron, dòng electron này được các cặp điện cực khuếch đại và bắn đi với tốc độ ngày càng nhanh. Hiệu ứng này xảy ra rất nhanh và cực kỳ hữu dụng trong định lượng cường độ phát quang.

B. Một số phản ứng phát quang

1. Phản ứng phát quang hóa học

a. Phản ứng phát quang của luminol

Đây là phản ứng có thể quan sát ngay trong cuộc sống hằng ngày và đặc trưng bởi các loài động vật có khả năng phát quang. Phản ứng phát quang của luminol (5-amino-2,3-dihydrophthalazine-1,4-dione) được mô tả lần đầu bởi Albrecht năm 1928. Luminol sẽ phản ứng với một chất có tính oxi hóa mạnh (ví dụ như H2O2) trong môi trường alkaline, chất xúc tác của phản ứng thường là kim loại hay enzyme hay một hợp chất có chứa gốc kim loại. Phản ứng sinh ra 3-aminophthalate ở trạng thái kích thích electron và sau đó phát ra ánh sáng.
Ứng dụng phổ biến nhất của phản ứng này là xác định các chất oxi hóa hay chất tham gia phản ứng với chất oxi hóa. Ngoài ra, phản ứng này cũng dùng để xác định các ion kim loại do chúng xúc tác cho phản ứng phát quang hay là sản phẩm của enzyme xúc tác.

b. Phản ứng phát quang của Ce (IV)

Năm 1995, Zhang và các cộng sự đã đề xuất cơ chế phản ứng phát quang của Ce (IV) như sau:

Trong điều kiện có chất phát huỳnh quang, các ion Ce (III) phức hợp Ce (III)-chất phản ứng sẽ chuyển năng lượng dư thừa cho chất phát huỳnh quang và tạo ra sự phát quang hóa học:




c. Phản ứng phát quang của KMnO4

Cơ chế phản ứng phát quang của KMnO4 được Aly và đồng nghiệp đề xuất năm 1998 như sau:

Trong điều kiện có chất phát huỳnh quang, năng lượng từ phản ứng oxi hóa khử có thể được chuyển cho quinine để phát quang.

d. Phản ứng phát quang của tris (2,2’-bipyridyl)ruthenium (III)

Năm 2000, Aly và cộng sự đã công bố nghiên cứu về cơ chế phản ứng phát quang của Ru(bipy)32+ như sau:

2. Phản ứng miễn dịch enzyme phát quang (CLEIA)

Phản ứng miễn dịch enzyme phát quang (CLEIA) dựa trên sự liên kết giữa kháng thể và enzyme sử dụng các chất phát huỳnh quang và phát quang kế để định lượng. Gần đây, kỹ thuật CLEIA càng ngày càng được cải tiến, đặc biệt là về chất lượng ánh sáng đầu ra mà tiêu biểu là kỹ thuật CLEIA sử dụng các hạt từ (MPs-CLEIA), kỹ thuật này sử dụng các vi hạt từ hỗ trợ quá trình phân tách các chất và pha rắn với độ nhạy cao và khoảng phát hiện rộng. Tuy nhiên, vẫn có một nhóm nhỏ những người nghi ngờ sự vượt trội của kỹ thuật mới này so với kỹ thuật ELISA truyền thống.
Năm 2011, Zhang Quian-Yun và cộng sự đã công bố công trình so sánh hai phương pháp miễn dịch enzyme phát quang trên hạt từ và ELISA so màu cổ điển khả năng phát hiện α-fetoprotein trong huyết thanh. Về thời gian phản ứng, họ thấy rằng phương pháp MPs-CLEIA tiết kiệm tới 60 phút. Một phản ứng ELISA cần 90 phút để có kết quả, trong khi phương pháp MPs-CLEIA chỉ cần 30 phút. Nguyên nhân có thể do do các kháng thể trong phản ứng ELISA được phủ trên tấm vi thể làm giảm hiệu quả khuếch tán, trong khi phương pháp MPs-CLEIA, hỗn hợp kháng nguyên và kháng thể được trộn dưới dạng dịch đồng thể nên gia tăng khả năng bắt cặp kháng nguyên-thể. Ngoài ra, về khoảng nồng độ tuyến tính, phương pháp MPs-CLEIA có giới hạn từ 10 đến 2500 ng/ml, rộng hơn gấp 4 lần khoảng nồng độ tuyến tính của phương pháp ELISA. Tuy nhiên, MPs-CLEIA lại không có độ nhạy như ELISA truyền thống, độ nhạy phát hiện của MPs-CLEIA là 0,74 ng/ml, thấp hơn một chút so với ELISA (0,82 ng/ml).



Kết quả bước đầu cho thấy, phương pháp MPs-CLEIA đem lại những lợi thế cho người sử dụng sử dụng. Ví dụ như tiết kiệm hóa chất dùng cho phản ứng, hiệu quả cao, tiết kiệm thời gian và có độ tuyến tính cao. Phương pháp MPs-CLEIA cũng đã được đưa vào sử dụng thực tế trong việc định lượng AFP trong máu người và thu được các kết quả rất tốt, giúp tiết kiệm chi phí, thời gian và thuận tiện trong việc phát hiện tế bào ung thư gan (HCC), giúp cho việc sàng lọc, chuẩn đoán và điều trị ung thư gan nguyên phát.


3. Định lượng phát quang và dược phẩm


Việc định lượng chính xác thành phần thuốc rất quan trọng trong ngành dược phẩm. Tùy vào đối tượng mà có nhiều phương pháp định lượng khác nhau, chẳng hạn như khối phổ, khối phổ huỳnh quang, phát hiện điện-hóa,... Trong những năm gần đây, việc định lượng dược phẩm bằng phương pháp định lượng hóa phát quang đã dần trở nên phổ biến và đặc biệt có ý nghĩa trong thương mại do phương pháp không yêu cầu quá nhiều về thời gian phản ứng, lượng mẫu cần thiết, các hóa chất và trang thiết bị đắt tiền song vẫn đạt độ chính xác cũng như độ nhạy cao. Ba chất được sử dụng một cách phổ biến trong định lượng hóa phát quang dược phẩm là luminol, Ce(IV) và tris(2,2’-bipyridiyl)ruthenium (II).
Biên dịch: Phạm Ngọc Sơn
Nguồn:
[1] A.M. Jimenez and M.J. Navas (2002): “Chemiluminescence Methods (Present and Future)”, Grasas y Aceites, Vol. 53. Fasc. 1 (2002), 64-75
[2] Qian-Yun Zhang, Hui Chen, Zhen Lin, Jin-Ming Lin (2011): “Comparison of chemiluminescence enzyme immunoassay based on magnetic microparticles with traditional colorimetric ELISA for the detection of seruma-fetoprotein”, Journal of Pharmaceutical Analysis 2012;2(2):130–135
[3] http://www.comm-tec.com :” An Introduction to Chemiluminescence and Bioluminescence Measurements”

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2015

Các chất chống oxy hóa bảo quản thực phẩm



Chất chống oxy hóa là các chất ổn định về cấu trúc phân tử và có thể cho đi một electron để trung hòa các gốc tự do được sinh ra trong tế bào, cũng như làm giảm các tác động của gốc tự do. Ngoài các chất chống oxy hóa có sẵn trong tế bào như superoxide dismutase, catalase, glutathione peroxidase... còn có các chất chống oxy hóa được con người tổng hợp hoặc bán tổng hợp như ethoxyquin, dibutylhydroxytoluene, butylhydroxyanisol,...

Thông thường, các chất chống oxy hóa hoạt động dựa trên hai cơ chế. Thứ nhất là cơ chế bẻ gãy chuỗi phản ứng (chain-breaking mechanism), theo cơ chế này, các chất chống oxy hóa sẽ đẩy một electron cho gốc tự do có trong chuỗi phản ứng và trung hòa gốc đó, không cho phản ứng dây chuyền tiếp tục xảy ra. Cơ chế thứ hai là cơ chế loại bỏ ngay từ đầu các gốc ROS và RNS bằng việc ngăn không cho chúng được hình thành.

Một trong những ứng dụng cơ bản của chất chống oxy hóa là phụ gia bảo quản thực phẩm. Oxy trong không khí thúc đẩy quá trình oxy hóa, làm biến tính và phân hủy của các chất có trong thực phẩm như mỡ động vật, dầu ăn, thịt cá, vitamin A và carotene, việc này làm mất đi lượng protein và năng lượng hay làm mất hương vị và chất lượng của thực phẩm. Hơn nữa, sản phẩm của quá trình peroxide hóa lipid có thể gây độc cho gan.

Quá trình oxy hóa diễn ra nhanh hơn khi ở nhiệt độ cao. Quá trình oxy hóa điển hình có thể sinh ra nhiệt và có thể là nguyên nhân của việc tự bốc cháy ở thịt cá. Các chất có khả năng ngăn hoặc làm giảm quá trình oxy hóa gọi là các chất chống oxy hóa. Ba chất ethoxyquin, dibutylhydroxytoluene (BHT) và butylhydroxyanisol (BHA) thường được dùng như một chất phụ gia thực phẩm.

Quả thực, để bảo vệ thịt cá chống lại việc tự cháy trong quá trình vận chuyển (nhiệt độ của phẩm có thể tăng cao do chúng được  sản xuất ở Nam Bán cầu và chuyển tới các nước khu Xích đạo). ethoxyquin thường được bổ sung vào sản phẩm với liều lượng được các công ước quốc tế quy định.
Ba loại chất chống oxy hóa kể trên có thể được bổ sung vào bất kỳ loại thực phẩm nào. Tuy nhiên, liều lượng của chất chống oxy hóa không được vượt quá 150 g/tấn thành phẩm. Do đó, tổng lượng bổ sung vào thành phẩm và tổng lượng thành phần phải nhỏ hơn 150 g/tấn.
Mặc dù liều lượng cụ thể đối với từng thành phần thực phẩm như thịt các không được quy định, nhưng tổng lượng chất chống oxy hóa phải được thể hiện dưới dạng %.


I. Ethoxyquin- E324


Ethoxyquin (E324) là một chất chống oxy hóa, được sử dụng như một chất phụ gia thực phẩm và thuốc trừ sâu hại từ những năm 1981 và thường dùng trong việc chống oxy hóa ở mỡ và dầu cá.

Đến nay, Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) vẫn đang tiếp tục nghiên cứu về tác động của ethoxyquin trong việc hình thành protoporphyrin IX trong gan người cũng như các enzyme khác có trong gan động vật nhưng vẫn chưa có bằng chứng cụ thể về khả năng ảnh hưởng đến sức khỏe con người của ethoxyquin. Trong chăn nuôi, ethoxyquin thường được sử dụng để bổ sung vào các viên thức ăn cho gia cầm. Ngoài ra, ở Na Uy, chất này cũng được sử dụng như một chất ổn định mẫu trong ngành công nghiệp đánh bắt thủy sản và làm phụ gia sản phẩm trong chăn nuôi cá hồi. Năm 1997, Trung tâm dược phẩm thú y khuyến cáo nên giữ lượng ethoxyquin ở mức 75 ppm trong thức ăn chăn nuôi, ngưỡng này vẫn được các công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi sử dụng đến bây giờ. Theo thông tin của cơ sở dữ liệu PAN Pesticides, ethoxyquin có thể gây độc cho các loài cá cũng như thủy hải sản. Ngoài ra, chất này bị cấm sử dụng trong thực phẩm ở Úc cũng như ở các nước thuộc Liên minh Châu Âu.

II. Dibutylhydroxytoluene (BHT)- E321


Dibutylhydroxytoluene (BHT) được phát hiện lần đầu vào năm 1947 và sử dụng như một chất chống oxy hóa từ năm 1981. Trong công nghiệp, BHT được sản xuất dựa trên phản ứng giữa p-cresol (4-methylphenol) với isobutylene (2-methylpropene) trong điều kiện có axit sulfuric làm xúc tác

CH3(C6H4)OH + 2 CH2=C(CH3)2 à ((CH3)3C)2CH36H2OH

Ngoài ra, BHT cũng có thể được điều chế bằng cách hydromethyl hóa hay aminomethyl hóa 2,6-di-tert-butylphenol.

Dibutylhydroxytoluene thường được dùng như một chất phụ gia thực phẩm, phụ gia công nghiệp, các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, thức ăn chăn nuôi,... Từ năm 1979, Trung tâm Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ đã phân BHT vào nhóm các chất an toàn nói chung (generally recognized as safe- GRAS) sau khi tiến hành các thí nghiệm trên chuột. Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) cũng như các nước thuộc Liên minh Châu Âu cũng cấp phép sử dụng cho Dibutylhydroxytoluene.Tuy nhiên, ở Nhật Bản (từ năm 1958), Thụy Điển, Ru-ma-ni và Úc, BHT bị cấm sử dụng. Từ những năm 70 của thế kỷ XX, BHT được thay thế bằng BHA.

III. Butylhydroxyanisol (BHA)- E320


Butylhydroxyanisol (BHA) bắt đầu được dùng như một chất phụ gia thực phẩm vào năm 1981 và được thêm vào thịt cá và mỡ.


BHA là hỗn hợp gồm 2-tert-butyl-4-hydroxyanisole và 3-tert-4-hydroxyanisole. Hai chất này có các tính chất tương tự nhau nên rất khó phân tách. Thậm chí khi sử dụng sắc ký để định lượng từng thành phần, đỉnh của chúng cũng không phân tách rõ ràng. Do đó, lượng BHA được tính dựa trên tổng lượng hai chất thành phần.

Viện Sức khỏe Quốc Gia Hoa Kỳ ghi nhận rằng BHA có thể gây ung thư dựa trên các bằng chứng thực nghiệm trên động vật. Ở liều cao, BHA có thể gây u nhú và tạo các tế bào ung thư biểu bì hình vảy ở chuột thí nghiệm và chuột hamster Syrian lông vàng.

Biên dịch: Phạm Ngọc Sơn
Nguồn:
[2] Pet Food Labels, U.S. Food and Drug Administration: http://www.fda.gov
[3] Ethoxyquin at the PAN pesticide database: http://www.pesticideinfo.org
[4] Noshly. "Ethoxyquin - 324 - Noshly - Food Additive & Ingredients Reference".    
[5] Rubel DM, Freeman S. (May 1998). "Allergic contact dermatitis to ethoxyquin in a farmer handling chicken feeds". Australasian Journal of Dermatology 39 (2): 89–91
[6] Lundebye AK, Hove H, Måge A, Bohne VJ, Hamre K. "Levels of synthetic antioxidants (ethoxyquin, butylated hydroxytoluene and butylated hydroxyanisole) in fish feed and commercially farmed fish.". PubMed.gov. National Institute of Nutrition and Seafood Research, Bergen, Norway. Retrieved 14 August 2014.
[7] Wikipedia: https://en.wikipedia.org
[8] Helmut Fiege, Heinz-Werner Voges, Toshikazu Hamamoto, Sumio Umemura, Tadao Iwata, Hisaya Miki, Yasuhiro Fujita, Hans-Josef Buysch, Dorothea Garbe, Wilfried Paulus "Phenol Derivatives" in Ullmann's Encyclopedia of Industrial Chemistry, Wiley-VCH, Weinheim, 2002.
[9] Burton, G. W.; Ingold, K. U., "Autoxidation of biological molecules. 1. Antioxidant activity of vitamin E and related chain-breaking phenolic antioxidants in vitro", Journal of the American Chemical Society, 1981, volume 103, pp 6472 - 6477.
[10] US Dept of Health & Human Services. Household Products Database. [1].US EPA. InertFinder. [2]. US National Library of Medicine. Haz-Map. [3]. US National Library of Medicine. Hazardous Substances Data Bank. [4].
[11] Bioassay of Butylated Hydroxytoluene (BHT) for Possible Carcinogenicity, National Cancer Institute, CARCINOGENESIS Technical Report Series No. 150, 1979, 128 pp National Institutes of Health.
[12] Hazardous Substances Database, National Library of Medicine.
[13] Butylated Hydroxyanisole (BHA), Report on Carcinogens, Eleventh Edition, National Institutes of Health.

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2015

Xét nghiệm Alpha-Fetoprotein (AFP) trong máu


Xét nghiệm alpha-Fetoprotein (AFP) trong máu nhằm kiểm tra nồng độ AFP trong máu của sản phụ. AFP là một chất được tạo ra ở gan của thai nhi (fetus). Lượng AFP trong máu của sản phụ có thể giúp xác định các vấn đề về sức khỏe của trẻ ngay khi chưa chào đời như tật nứt đốt sống (spina bifida)khuyết tật thiếu não (anencephaly). Xét nghiệm AFP còn là một bước cần thiết trong quy trình sàng lọc các vấn đề về nhiễm sắc thể như Hội chứng Đao (thừa nhiễm sắc thể số 21) hay Hội chứng Edwards (thừa nhiễm sắc thể số 18). Xét nghiệm AFP còn giúp xác định chứng thoát vị rốn (omphalocele), một bệnh gặp ở trẻ sơ sinh, do ruột non của trẻ nhô ra ngoài thành bụng.
Bình thường, AFP chỉ chiếm một hàm lượng nhỏ trong máu của sản phụ. Trong máu của đàn ông khỏe mạnh và phụ nữ bình thường, không mang bầu thì không có AFP hoặc với lượng rất nhỏ
Hàm lượng AFP trong máu được dùng trong các xét nghiệm huyết thanh sản phụ bộ ba hoặc bộ bốn. Thường thì xét nghiệm này sẽ được thực hiện giữa trong các thai tuần từ 15 đến 20. Sàng lọc bộ ba (triple test) xét nghiệm lượng alpha-fetoprotein (AFP), kích dục tố màng đệm người (human chorionic gonadotropin-hCG), và một loại estrogen (estriol không liên hợp, hay uE3). Sàng lọc bộ bốn (quadruple test) kiểm tra các chất và nồng độ hormone inhibin A. Nồng độ các chất, cùng với độ tuổi của người phụ nữ và các yếu tố khác góp phần giúp bác sĩ ước lượng được khả năng trẻ mắc phải các khuyết tật bẩm sinh.
Xét nghiệm sàng lọc cho biết khả năng trẻ có thể mắc các khuyết tật bẩm sinh. Nếu kết quả là dương tính thì trẻ có khả năng mắc các khuyết tật bẩm sinh và các bác sĩ cần thực hiện các xét nghiệm chuẩn đoán để chắc chắn về kết quả.

Đàn ông, phụ nữ không mang thai và trẻ nhỏ

Đối với đàn ông, phụ nữ không mang thai và trẻ nhỏ, AFP trong máu là dấu hiệu cho thấy việc mắc nhiều loại ung thư như ung thư tinh hoàn, buồng trứng, dạ dày, tụy và gan. Nồng độ cao AFP là dấu hiệu của bệnh Hodgkin, ung thư hạch bạch huyết (lymphoma), u não và ung thư tế bào thận.

Các thiết bị chăm sóc sức khỏe có thể giúp các bác sĩ đưa ra kết luận chính xác cũng như có các biện pháp nâng cao chất lượng sức khỏe.

Mục đích của xét nghiệm

Xét nghiệm AFP nhằm:

- Kiểm tra khả năng trẻ gặp các vấn đề về não và cột sống của thai nhi (gọi là các khuyết tật về ống thần kinh). Cứ 1000 sản phụ sẽ có 2 người sinh con mắc phải khuyết tật này. Khả năng trẻ bị mắc khuyết tật này không phụ thuộc vào độ tuổi của người mẹ. Đa số trẻ bị mắc khuyết tật này không có tiền sử mắc phải trong gia đình.
- Kiểm tra khả năng trẻ mắc Hội chứng Đao.
- Phát hiện ung thư, đặc biệt là ung thư tinh hoàn, buồng trứng, gan. Tuy nhiên hơn một nửa số bệnh nhân ung thư gan không có nồng độ AFP cao.
- Kiểm tra hiệu quả điều trị ung thư.
- Kiểm tra khả năng mắc ung thư gan (gọi là hepatoma) ở những bệnh nhân xơ gan và viêm gan B.

Các bước chuẩn bị

Sản phụ không cần làm bất cứ việc gì trước khi xét nghiệm AFP.
Sản phụ sẽ được kiểm tra cân nặng trước khi xét nghiệm máu do kết quả xét nghiệm sẽ phụ thuộc vào cân nặng của sản phụ. Ngoài ra, việc đánh giá kết quả xét nghiệm còn dựa vào chủng tộc, độ tuổi và số thai tuần của sản phụ.

Thực hiện xét nghiệm

Việc lấy máu bình thường sẽ:
- Quấn băng cao su xung quanh bắp tay để chặn máu lại. Việc này làm cho các tĩnh mạch dưới băng to ra và thuận lợi cho việc đặt kim tiêm.
- Vị trí tiêm rõ ràng sau khi dùng cồn.
- Đưa kim tiêm vào mạch, có thể cần nhiều ống tiêm.
- Đưa ống lại gần đầu kim tiêm để lấy máu.
- Tháo băng khỏi tay người bệnh khi đã lấy đủ máu cần thiết.
- Đặt đệm gạc hay bông phía trên vị trí tiêm sau khi đã rút kim tiêm.
- Ấn vào vị trí tiêm và quấn băng.

Việc này được thực hiện thế nào?

Mẫu máu sẽ được lấy từ tĩnh mạch. Một băng cao su sẽ quấn quanh bắp tay. Sản phụ có thể thấy hơi chặt khi quấn băng và không cảm thấy gì khi tiêm, hoặc đôi khi hơi nhói.

Các rủi ro

Có rất ít các vấn đề xảy ra khi lấy máu từ tĩnh mạch:
- Sản phụ có thể thấy vết bầm nhỏ ở chỗ tiêm. Vết bầm này có thể xuất hiện do họ ấn vào vị trí tiêm quá lâu.
- Sau khi tiêm, rất ít khi tĩnh mạch bị phồng lên. Trường hợp này gọi là viêm tĩnh mạch (phlebitis). Nếu gặp phải trường hợp này, sản phụ có thể dùng gạc ấm chườm lên trong khoảng vài phút.
- Vị trí tiêm vẫn tiếp tục chảy máu là một biểu hiện thường gặp ở những người có các rối loạn về máu. Ngoài ra, việc sử dụng Aspirin, warfarin (Coumadin) và các thuốc làm loãng máu (blood-thinning medicines) có thể gây ra triệu chứng tương tự. Nếu sản phụ có các vấn đề về máu và đông máu, cũng như đang sử dụng các loại thuốc làm loãng máu, thì người nhà hoặc bản thân sản phụ nên thông báo với bác sĩ trước khi lấy máu.

Kết quả

Kết quả xét nghiệm AFP sẽ kiểm tra lượng AFP trong máu sản phụ. AFP là chất được tạo ra ở gan của thai nhi. Lượng AFP trong máu sản phụ giúp xác định các vấn đề của trẻ trước sinh.

Bình thường
Các giá trị bình thường liệt kê ở đây- gọi là khoảng tham khảo- chỉ mang tính hướng dẫn. Các khoảng này có thể thay đổi tùy theo từng phòng xét nghiệm, và từng phòng sẽ có xác định trước khoảng kết quả như thế nào là bình thường. Kết quả của phòng xét nghiệm nên đưa ra khoảng bình thường mà phòng sử dụng. Ngoài ra, kết quả này còn phụ thuộc vào tuổi thai. Lượng cao AFP cho thấy tuổi thai được ghi chép sai hay tính toán không chính xác. Việc siêu âm sẽ giúp xác định tuổi thai chính xác hơn.

Lượng AFP trong máu
Đàn ông và phụ nữ không mang thai:
0-40 ng/mL hay (mcg/L)2
Sản phụ 15-18 tuần:
10-150 ng/mL hay mcg/L3

Kết quả tiếp theo
Đối với sản phụ, bắt đầu từ tuần thứ 14 của thai kỳ, lượng AFP sẽ bắt đầu tăng lên. Thông số này sẽ tiếp tục tăng đến khoảng một đến hai tháng trước khi sinh và sau đó giảm dần. Các giá trị này của phụ nữ da trắng thường sẽ cao hơn một chút so với phụ nữ da đen nhưng lại thấp hơn phụ nữ châu Á. Độ chính xác trong việc xác định tuổi của trẻ cần cho việc đánh giá đúng về lượng AFP.
Khoảng AFP bình thường sẽ thay đổi theo tuổi, cân nặng và chủng tộc của sản phụ; đối với sản phụ bị tiểu đường thì cần tiêm insulin và biết tuổi thai. Nếu tuổi thai khác với kết quả siêu âm, lượng AFP phải được điều chỉnh lại cho hợp lý. Các bác sĩ và sản phụ cần quan sát giá trị AFP khi xét nghiệm AFP trong máu.

Giá trị cao
- Đối với sản phụ, lượng alpha-fetoprotein cao nghĩa là:
  + Tuổi thai được xác định sai.
  + Sản phụ mang trong bụng nhiều hơn một đứa trẻ, chẳng hạn như sinh đôi.
  + Thai nhi gặp các khuyết tật về ống thần kinh.
  + Ruột hay các cơ quan khác trong khoang bụng có thể nằm ngoài cơ thể (gọi là khuyết tật thành khoang bụng hay thoát vị rốn). Cần phẫu thuật sau sinh để khắc phục được khuyết tật này.
   + Thai nhi đã chết.

- Đối với người trưởng thành không mang thai, lượng alpha-fetoprotein cao nghĩa là:
    + Họ đã mắc ung thư gan, tinh hoàn hay buồng trứng.
    + Họ đã mắc các bệnh về gan như xơ gan hay viêm gan.
    + Họ đã sử dụng nhiều rượu.

Giá trị thấp
- Đối với sản phụ, lượng AFP thấp có nghĩa là:
     + Tuổi thai được xác định sai.
     + Trẻ bị Hội chứng Đao.

- Đối với người trưởng thành không mang thai, lượng alpha-fetoprotein trong máu thường bằng không.

Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm

Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm của bạn gồm:

- Sản phụ mang thai đôi, hoặc nhiều hơn. Lượng AFP trong máu sẽ tăng cao.
- Sản phụ bị tiểu đường trong thời kỳ thai nghén.
- Sản phụ hút thuốc hay hít phải khói thuốc. Lượng AFP trong máu sẽ tăng cao.
- Sản phụ đang sử dụng xạ trị trong khoảng 2 tuần.

Kết quả AFP bất thường

AFP là xét nghiệm sàng lọc kiểm tra khả năng thai nhi mắc các vấn đề trước sinh. Các xét nghiệm khác kể cả siêu âm sẽ được thực hiện nếu kết quả xét nghiệm AFP bất thường. Nếu siêu âm không tìm ra được nguyên nhân của sự bất thường, thì việc chọc ối có thể sẽ được thực hiện.

Biên dịch: Phạm Ngọc Sơn



Nguồn tham khảo: 
http://www.webmd.com