Thứ Năm, 22 tháng 12, 2016

Một số loại phân hữu cơ có sẵn trong nhà


Đối với những hộ trồng rau tại nhà, việc phải nhờ bón loại phân nào cho cây gì và ra sao thật sự là một vấn đề. Đâu phải bất kỳ ai trong chúng ta đều được đào tạo để trở thành những người nông dân chuyên nghiệp, chưa kể, trên thị trường hiện nay ngập tràn các loại phân bón hóa học, nếu không có kiến thức về trồng trọt thì rất có thể sẽ bị mua hớ hoặc mua không đúng loại phân cần thiết. Bài viết ngắn dưới đây sẽ cung cấp cho bạn một số thông tin về cách làm phân hữu cơ hiệu quả mà lại không hề tốn kém.



1. Bã cà phê


Bã cà phê có nhiều đạm, magie và kali, rất thích hợp để trồng các cây hoa hoặc một số cây lấy củ như khoai tây, khoai lang, cà rốt,.. Tuy nhiên, bạn hoàn toàn có thể sử dụng bã cà phê để bón cho các loài cây khác vì pH của cà phê không quá thấp. Bên cạnh đó, cũng dựa vào tính acid của cà phê nên chúng ta có thể sử dụng loại phân hữu cơ này để trung hòa đất bị nhiễm kiềm.


Để phát huy tối đa hiệu quả của cà phê, bạn nên trộn 250 g bã cà phê ẩm với 2 lít nước và để phơi ngoài trời trong 1-2 ngày trước khi đem bón xuống đất. Nếu không, bạn có thể rải bã cà phê xung quanh gốc cây và tưới nước lên cho ẩm. Bằng cách này, góc vườn nhỏ của bạn sẽ có mùi cà phê thoang thoảng, rất dễ chịu.

2. Vỏ trứng

Vỏ trứng có thể bổ sung canxi cacbonat cũng như nhiều loại khoáng chất khác như kali, magie, sắt,… cho đất, hỗ trợ rất tốt cho sinh trưởng thực vật. Đây là loại phân hữu cơ tự nhiên rất tốt cho các loại cây ăn quả như ô liu, bí xanh, mướp và đặc biệt là cà chua. Bỏ vỏ trứng vào phía dưới và rải một lớp đất lên trên trước khi gieo hạt sẽ giúp cây hấp thụ tốt các loại khoáng chất và các nguyên tố vi lượng. Bên cạnh việc giúp đẩy nhanh quá trình sinh trưởng, loại phân này còn giúp cây khỏe mạnh hơn, tăng khả năng chống chịu bệnh tật và hạn chế tình trạng thối hoa do thiếu canxi.

3. Bã trà

Bã trà là một loại phân hữu cơ tự nhiên và được nhiều người biết đến. Túi lọc trà hoặc bã trà khô cung cấp một lượng dinh dưỡng tuyệt vời cho cây. Chất tannin có trong trà rất lý tưởng để cây khỏe mạnh và ra hoa. Bên cạnh đó, loại phân hữu cơ này còn giúp giữ độ ẩm cho đất, giúp cây không bị thiếu nước trong những ngày hè nóng bức.

Ngoài ra, nước trà uống thừa của gia đình pha thêm vào với nước theo tỷ lệ 1:10 đem tưới hoa rất tốt. Tuy nhiên, bạn nên sử dụng ngay chứ không để qua đêm, do nước trà sẽ biến đổi tính chất và gây kiềm cho đất.

4. Nước vo gạo

Trong nước vo gạo có chứa nhiều tinh bột, vitamin, protein,… rất tốt cho cây cảnh và hoa. Tưới cây bằng nước vo gạo hằng ngày sẽ giúp cung cấp các chất dinh dưỡng thiết yếu giúp cây hoa phát triển tốt, khỏe mạnh và hoa bền hơn. Đặc biệt là phong lan, nước vo gạo sẽ giúp thúc đẩy cây ra rễ, chồi, bồi dưỡng cho cây phát triển. Ngoài ra, đây cũng là liều thuốc tự nhiên giúp hạn chế được bệnh héo rũ thối gốc do virut.

5. Rau quả hư

Các loại rau củ bị dập, hư hoặc các phần rễ, lá không sử dụng đều có thể trở thành phân bón hữu cơ tuyệt vời cho cây trồng, Vào mùa khô, bạn chỉ cần băm nhỏ các loại rau này, bón vào gốc cho cây trồng sau đó tưới nước lên. Đây là các tận dụng lượng rau bỏ đi rất hiệu quả.

Hy vọng bài viết trên của mình đã cung cấp cho các bạn thông tin về một số loại phân hữu cơ có sẵn trong mỗi hộ gia đình, vừa tiết kiệm lại vừa hiệu quả cho cây trồng. 

Chúc các bạn trồng cây vui vẻ !

SonSonBio

Thứ Tư, 7 tháng 12, 2016

Hoa cúc châu Mỹ


Danh pháp khoa học: Gazania rigens, thuộc chi Gazania, họ Cúc Asteraceae.

Cúc châu Mỹ hay còn được biết đến dưới cái tên cúc Gazania, cúc Huân chương.

Đây là giống cây thân cỏ, cao 20-40cm, lá màu xanh bóng, có dạng trái xoan thuôn dài, nhọn ở đầu. Hoa có kích thước từ 5-6 cm, có nhiều màu hoa khác nhau như trắng kem, vàng, cam, đỏ sẫm, tím. Một đặc điểm của cây là khi hoa này tàn thì hoa khác sẽ nở nên cây thường được trồng để làm cảnh trong công viên, vườn nhà. Mùa thích hợp nhất để trồng hoa cúc gazania ở miền bắc là vào đầu hè, còn ở miền nam, cây có thể trồng gần như quanh năm. Đây là loài cây có thời gian ra hoa khá nhanh, sau khi gieo hạt được 35-45 ngày, cây bắt đầu nở hoa.

Quy trình chăm sóc cúc châu Mỹ không quá cầu kỳ. Cây không cần các chất điều hòa sinh trưởng nhân tạo hay sử dụng các biện pháp hóa học để kích hoa nở. Tuy nhiên, khi trồng, bạn nên bố trí để cung cấp đủ ánh sáng cho cây, đất cần tơi xốp và thoát nước tốt. Cần chú ý, trong quá trình tưới, nên sử dụng bình xịt và tưới dưới dạng phun sương để giữ độ ẩm và không bị đọng nước cục bộ, tạo điều kiện cho các loài vi sinh vật hay nấm phát triển gây chết cây.


Một số bệnh có thể gặp: bệnh héo do nấm Fusarium, bọ trĩ, sâu ăn tạp, rệp, muỗi.

SonSonBio

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2016

Bệnh chết cây non

Dấu hiệu nhận biết của bệnh chết cây con khá rõ ràng, đoạn thân ngang mặt đất bị thối nhũn làm cho cây con bị gãy gục, lá cây bị nhiễm bệnh héo rũ. Bệnh này có khả năng lây nhiễm cao nên có thể gây chết toàn bộ vườn rau.


Nguyên nhân gây ra bệnh đã được rất nhiều nghiên cứu đề cập, trong đó, nguyên nhân chính là do các loại nấm gây bệnh bao gồm các loài ký sinh trên hạt như rhizoctonia sp., fusarium sp., phytophthora sp., và các loài tiềm sinh trong đất như pythium sp.. Chúng mọc và phát triển mạnh trong điều kiện môi trường có độ ẩm cao và có dải nhiệt độ sống dài từ 12-350C. Do đó, ở nước ta, bệnh không chỉ xảy ra ở vụ hè mà có thể diễn biến ở các cây vụ đông nên bà con cần chú ý phòng ngừa. Ngoài ra, bào tử nấm có thể sống trong đất trồng, trên vỏ hạt, và có thể lây nhiễm qua dụng cụ gieo trồng nên bệnh có thể dễ dàng lây lan với tốc độ rất nhanh.

Nguồn nấm bệnh có thể tiềm ẩn sẵn trong đất đai hay trong giá thể trồng không sạch. Ngoài ra, nguồn bệnh có thể do nấm vụ trước truyền nhiễm tiếp cho vụ sau hoặc khi gieo trồng, bà con không đánh tơi đất, kết cấu đất nén chặt, khó thoát nước, đây cũng là một trong những nguồn gốc sinh bệnh. 

Để phòng ngừa. bạn cần xử lý đất trồng trước khi gieo hạt, việc này giúp cho các nguồn nấm, vi sinh gây bệnh tiềm ẩn trong đất bị loại bỏ. Hạt giống trước khi gieo cũng nên được tiền xử lý bằng Rovral 50WP hoặc Aliette 80WP để trừ nấm bệnh. Trong quá trình gieo trồng, nên sử dụng phân hữu cơ vi sinh hoặc phân chuồng có bổ sung chế phẩm bột nấm Trichoderma sp. để ngăn ngừa và diệt nguồn nấm bệnh lưu tồn trong phân khi gieo ươm cây non. Bên cạnh đó, vườn ươm hạt giống cũng cần đảm bảo thoáng khí, không bị mưa hắt hoặc dính mưa trực tiếp, cần chọn đất cao và không bị đọng nước. Việc điều chỉnh lượng tưới cũng rất quan trọng, đối với những ruộng rau ngoài trời, trước những ngày mưa bão cần tiến hành đào các rãnh thoát nước, xới tơi đất và nhổ cỏ để tránh bị đọng nước do mưa, còn đối với những hộ trồng cây trong nhà kính, cần tính toán lượng nước tưới cẩn thận để không tưới quá nhiều. 
SonSonBio

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2016

Phân biệt Bồ đề và Lâm vồ

Bồ đề và Lâm vồ là hai giống cây thuộc cùng một chi, chúng có hình dạng gần giống nhau nên rất nhiều người nhầm lẫn hai loại cây này. Ở bài viết này, mình sẽ giúp các bạn phần nào phân biệt được hai loài cây này.

Trước tiên, chúng ta cần biết sơ qua về các đặc điểm của Bồ đề và Lâm vồ. Cây Bồ đề (Ficus religiosa), là một cây thuộc chi đa đề (Ficus), cây có nguồn gốc từ Ấn Độ và sau đó, đi theo các nhà sư tới các nước khác như Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia. Đây là một loài cây rụng lá về mùa khô. Cây cao nhất có thể cao tới 30m với đường kính thân tới 3m. Gỗ Bồ đề nhẹ, mềm và đều, ít cong vênh, dễ xẻ nên được ứng dụng rất nhiều trong công nghiệp giấy, làm diêm, nhựa Bồ đề còn được sử dụng trong công nghệ thực phẩm và sản xuất nước hoa.
Trong tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo, Bồ đề được xem là giống cây linh thiêng, nơi mà Đức Phật Thích Ca Mầu Ni giác ngộ. Ngoài ra, đây cũng là giống cây tiên phong trong phát triển hệ sinh thái rừng, đòi hỏi nhiều ánh sáng, chịu rét tốt nên cây còn được nhiều người tượng trưng cho sự can trường, đi tiên phong trong các vấn đề.

Khác với Bồ đề, cây Lâm vồ là loài cây được trồng phổ biến ngoài đường phố, các quảng trường, khuôn viên, ngõ xóm và có thể ở trong khuôn viên nhiều chùa Phật giáo,… Cây có tên khoa học là Ficus rumphii, phân bố rộng rãi ở nhiều nước Đông Nam Á.

Do nằm trong cùng chi phân loại nên Lâm vồ có rất nhiều điểm tương đồng với Bồ đề. Cách dễ nhất để phân biệt hai giống cây này là dựa vào hình thái lá. Lá Bồ đề có mũi kéo dài thành chuỗi kim hình cong, dài 2-4 cm, hệ gân nổi rất rõ, gồm nhiều cặp gân bên gần song song và mọc gần đối. Phiến là dày với mặt trên bóng láng, mép gợn sóng, cuống lá dài tương đương chiều dài phiến lá. Trong khi đó, lá Lâm vồ có mũi nhọn 1-2 cm, hệ gân ít nổi rõ, các cặp gân bên thưa, mặt trên phiến lá thường không bóng láng, mép phiến lá không gợn sóng, cuống lá thường ngắn hơn phiến.
Hy vọng bài viết trên đây đã phần nào giúp các bạn phân biệt được hai giống cây bonsai thường gặp này. 

SonSonBio

Thứ Sáu, 25 tháng 11, 2016

Bạch chỉ- Cây thuốc vườn nhà


Danh pháp khoa học: Angelica dahurica (Họ Hoa tán- Apiaceae)

Cây còn được biết đến dưới những cái tên Bách chiểu, Chỉ hương, Cửu lý trúc căn, Đỗ nhược, Hòe hoán, Lan hòe, Linh chỉ,…Cây là thảo dược sống được nhiều năm, nhưng là cây thân thảo, cao khoảng 1,5 m khi cây ra hoa. Thân cây to, trong, bên trong thì rỗng. Phần phiến lá xòe thẳng, có nhiều nhánh. Cây ra hoa trong khoảng từ tháng 5- 8, hoa mọc thành cụm hình tán, gồm nhiều hoa đẹp, thơm, màu trắng. Đây là giống hoa thuần Á, mọc tốt ở cả đồng bằng và miền núi nên có thể tìm thấy trong các bụi cỏ dại hoặc được trồng để làm cảnh hoặc làm thuốc.

Trong các loại dược thảo chữa bệnh, loài cây này được xếp trong danh mục những cây thuốc quý dùng để chữa nhiều bệnh.Theo y học cổ truyền, cây bạch chỉ được sử dụng để trị phụ nữ bị lậu hạ, xích đới, huyết bế, âm đạo sưng, nóng lạnh, đầu phong, chảy nước mắt, cơ nhục sưng. Không chỉ có tác dụng đối với các bệnh phụ nữ, cây còn được chỉ định để điều trị phong tà, nôn mửa, đau đầu, chóng mặt; trị xoang mũi, hay chảy máu cam; đối với phụ nữ bị băng huyết, tiểu ra máu, lưng đau, bụng đau, ói nghịch, các bác sĩ cũng thường kê vị thuốc này trong toa thuốc cho bệnh nhân. Liều dùng thường chỉ giới hạn trong khoảng 4-8 g.

Mặc dù có nhiều tác dụng dược lý, nhưng theo các bác sỹ đông y, không nên sử dụng bạch chỉ khi bệnh nhân bị nôn mửa do hỏa; nhức đầu do huyết hư, hỏa vượng; âm hư, huyết nhiệt; đau đầu do huyết hư, ung nhọt đã vỡ mủ; kỵ tuyền phúc hoa; ức chế Hùng hoàng, Lưu hoàng. Bạch chỉ có một tác dụng phụ là gây tổn thương khí huyết, không nên cho bệnh nhân dùng nhiều.

Bà con nên gieo trồng cây bạch chỉ từ tháng 9-11 hàng năm. Trước khi trồng, bạn nên xử lý hạt bằng cách ngâm trong nước ấm (35-400C), sau đó cho vào khăn ấm để ủ cho tới khi nảy mầm mới đem trồng trên đất. Khi cây mọc được 2 lá thì bạn bón bổ sung phân đạm. Sau 25 này thì tiến hành bón thúc. Trong quá trình trồng, cần thường xuyên làm cỏ, tỉa bớt cành úa, lá vàng.

Sau khi trồng được 6-7 tháng, bà con có thể thu hoạch để chế biến thành dược phẩm. Bộ phận được thu hoạch ở đây là toàn bộ phần rễ và một phần dưới của thân.


SonSonBio

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016

Bệnh thối đít ở Cà chua (Blossom- end Rot - BER)


Đây là một bệnh khá phổ biến ở cà chua, nguyên nhân chủ yếu là do hàm lượng Can-xi trong đất không đủ đáp ứng cho cây trong thời kỳ ra quả. Đây được xem một trong những bệnh sinh lú gây hại phổ biến và có thể có thể ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng nông sản trồng nên bà con cần chú ý phòng ngừa sớm.

Bệnh rất dễ nhận diện vì đặc trưng của bệnh là gây tổn thương ở phần cuối trái ngay khi trái còn xanh hay đã chín. Vết loét này có màu hơi sậm, thường không lan rộng ra toàn quả nhưng lại ăn sâu và bên trong quả rất nhanh.

Nguyên nhân của bệnh này vẫn chưa được làm sáng tỏ, rất nhiều các chuyên gia đưa ra những quan điểm trái chiều về hiện tượng này.

Nếu cà chua được trồng trên nền đất có độ ẩm ở mức thấp và ổn định trong thời gian dài, chúng sẽ tự điều chỉnh mức độ sinh trưởng của bản thân và thường sẽ không phát triển bệnh thối đít trái. Tuy nhiên, nếu trồng cà chua trong điều kiện độ ẩm trung bình, liên tục hoặc tăng độ ẩm một cách đột ngột, cây có thể phát triển rất nhanh, ra quả sớm nhưng cây sẽ dễ dàng mắc nhiều loại bệnh, đặc biệt là BER. Nhiều ý kiến cho rằng, tỷ lệ mắc bệnh còn liên quan đến độ thoáng của khu vực trồng.

Bên cạnh các yếu tố như thay đổi độ ẩm và độ thoáng, nhiều chuyên gia còn biết, yếu tố dinh dưỡng cũng rất có thể là nguyên nhân dẫn đến các triệu chứng của bệnh. Nếu cung cấp dư thừa Ni-tơ sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh thối đít trái cũng như một số bệnh khác. Sự thiếu hụt Can-xi là một yếu tố quan trọng gây ra tình trạng bệnh lý này.Hiện nay, hầu như cứ nói đến bệnh thối đít trái là mọi người đều nghĩ đến giả thiết này, nhưng thực nghiệm cho thấy, trong một số trường hợp, dù đã bón đầy đủ vôi và có phun Can-xi đầy đủ nhưng hiện tượng thối đít cà chua vẫn xuất hiện.

Để kiểm soát bệnh, bà con nên thực hiện những bước sau:
-       Giữ pH của đất ở mức 6.0 – 6.5. Thường xuyên kiểm tra đất và bổ sung lượng vôi nếu cần thiết, Việc bón vôi nên được thực hiện trước khi trồng 1-2 tháng.
-       Nếu có thể, bà con nên gửi mẫu đất đến các viện nghiên cứu để xác định các chỉ số đất và nhận các hướng dẫn đầy đủ để đảm bảo lượng bón là phù hợp.
-       Bà con cũng nên chú ý đến chế độ tưới, cần duy trì lượng tưới vừa phải và đều đặn, không nên đột ngột tăng lượng tưới để thúc cây ra quả hay tăng tốc độ sinh trưởng.
-       Khi phát hiện các dấu hiệu của bệnh, cần phun bổ sung lượng Can-xi với tỷ lệ 500g Can-xi nitrat hoặc Can-xi clorua trên 100 lít nước. Bà con nên thận trọng khi sử dụng Can-xi clorua, trong những ngày trời nóng, nhiệt độ từ 29-320C, Canxi-clorua có thể gây cháy lá và rất dễ gây chết cây. Nên tưới bổ sung Can-xi khoảng 2-3 lần một tuần.
-       Nên chú ý, một số giống cà chua có xu hướng nhạy cảm với bệnh thối đít trái, bà con nên cẩn trọng trong việc chọn mua giống, không nên sử dụng các loại hạt không có nguồn gốc rõ ràng.
-       Cần hái bỏ những trái đã bị thối đít bởi chúng có thể tạo môi trường cho các loại vi khuẩn, nấm ký sinh gây bệnh khác phát triển và lây lan cho các cây và trái khác.
SonSonBio
Nguồn:

Dr. Joe Kemble, Extension horticulturist, Alabama Cooperative Extension System (334) 844-3050

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2016

HOA ÁNH HỒNG


Danh pháp khoa học: Pachyptera hymenaea (DC.) (Họ Đinh- Bignoniaceae)

Cây còn được biết đến dưới cái tên hoa tỏi, hoa lan tỏi, hoa bâng khuâng. Cây có nguồn gốc từ Mexico và được trồng phổ biến ở miền Nam nước ta, là một cây cảnh có hoa đẹp, trồng làm hàng rào hay uốn cổng biệt thự. Trong công viên một giàn cây Ánh hồng nở đầy hoa sẽ là điểm nhấn để mọi người nhìn ngắm.

Về hình thái cây, cây có dạng thân leo, mọc chậm, đặc biệt là khi trồng vào mùa khô. Cây leo có hoa mọc thành chùm to, hoa to hình ống dài, chia thành 2 môi xếp sát nhau, môi trên có 2 thùy, môi dưới có 3 thùy, các thùy gần như bằng nhau, nhị 4, mỗi nhánh mang 3 hoa màu tím hồng nhạt khác nhau. Hoa mềm, dễ rụng và có mùi giống tỏi, hắc nồng. Mùa hoa ngắn, nở rộ vào đầu mùa đông hay giữa mùa hè. Lá có 2 đôi lá phụ, mọc đối, dày và nhẵn. Điểm đặc biệt của cây là mặc dù ra hoa rất nhiều nhưng do hoa dễ bị nát nên thường hiếm khi kết được quả.

Đây là một giống cây dễ trồng, dễ uốn, mọc khỏe và nảy chồi nhanh nên thích hợp để trồng làm hàng rào trong nhà, trong công viên, hoặc làm giàn leo trong vườn gia đình. 


SonSonBio


Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2016

Cách sử dụng phân vi sinh hiệu quả



Phân vi sinh là loại phân được làm từ các phụ phẩm nông nghiệp, sau đó được các vi sinh vật đặc biệt lên men, phân giải các thành phần hữu cơ mà cây khó hấp thụ thành các chất dễ hấp thụ hơn. Việc bón phân vi sinh không chỉ cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng mà còn cung cấp một lượng lớn vi sinh vật cho đất, khiến đất vườn thêm màu mỡ.

Thông thường, bà con thường sử dụng các loại phân hóa học để bón cho cây trồng do chúng chứa các chất cần thiết cho cây trồng và có thể sử dụng ngay, không cần qua các công đoạn phức tạp như ủ, lên men, sấy. Nhưng khi sử dụng phân hóa học trong thời gian dài sẽ khiến nông sản bị tích tụ các độc tố, đặc  biệt là NO3tích tụ trong sản phẩm. Bên cạnh đó, theo kinh nghiệm trồng cây của các nhà vườn thì việc bón phân hóa học sẽ làm giảm chất lượng đất. Trong 1-2 năm đầu, có thể cây sẽ cho nhiều quả và có chất lượng cao, nhưng đến năm thứ ba thì năng suất giảm hẳn, và phải cải tạo lại đất thì mới có thể sử dụng tiếp được. Nguyên nhân của hiện tượng này là do các vi sinh vật trong đất bị nhiễm độc của phân hóa học trong thời gian dài và bị chết, nên đất không có lượng chất hữu cơ bổ sung và dễ bị bạc màu. Trong khi đó, nếu sử dụng phân vi sinh, bà con có thể thay thế được lượng phân đạm, phân lân hóa học từ 50-100% tùy theo loại cây trồng. Ngoài ra, khi bón phân vi sinh, chúng ta đã cung cấp vào đất lượng vi sinh vật phân giải đạm, lân từ lá cây rụng hay xác các loại côn trùng, sinh vật chết. Điều này khiến cho đất được bổ sung lượng mùn thường xuyên và làm dày thêm tầng đất có cấu tượng, hạn chế hiện tượng thoái hóa, bạc màu của đất. Hơn nữa, các nghiên cứu đã cho thấy, khi sử dụng phân vi sinh, nông sản không bị nhiễm độc, lượng độc tố NO3tồn dư trong sản phẩm giảm đáng kể.

Bên cạnh những lợi ích mà phân vi sinh đem lại, về giá thành, sản phẩm này giúp bà con tiết kiệm được chi phí sản xuất do chúng có thể được chế biến thủ công tại nhà hoặc theo quy mô công nghiệp. Trên thị trường, so với các loại phân hóa học, đặc biệt là phân ure thì phân vi sinh rẻ hơn rất nhiều. Do đó, nâng cao hiệu quả kinh tế mùa vụ cho bà con.

Một nhược điểm của phân vi sinh là thời gian tác dụng của nó thường chậm hơn phân hóa học nên đối với các cây ngắn ngày, như cải thìa, cải đắng, cà chua bi,… bà con nên sử dụng để bón lót. Các loại cây thu hoạch theo mùa vụ thì sau mỗi đợt thu hoạch cần bón bổ sung. Phân có thể được sử dụng để bón cho hầu hết tất cả các loại cây trồng, từ cây ăn quả, chè, lúa, ngô, rau xanh cho đến cây cảnh, cây công nghiệp. Thời gian bón tốt nhất là 2 thời kỳ mưa xuân (tháng 3-4) và mưa ngâu (tháng 7-8) để tận dụng độ ẩm của thời tiết, giúp các vi sinh vật hoạt động tốt hơn.


Đối với cây ăn quả, cây công nghiệp, hay cây cảnh lâu năm, mọi người nên bón theo hình chiếu tán cây. Đầu tiên, bà con cuốc và xới nhẹ vùng đất xung quanh gốc, rắc phân lên và lấp lại với liều lượng từ 1-2 kg/gốc cây hoặc bón với độ dày lớp phân từ 1-2 cm. Với cây chè, nên bón vào rãnh giữa 2 luống chè với lượng 0.2-0.3 kg/gốc. Với các cây rau xanh, phân vi sinh chủ yếu để bón lót với lượng 10-15 kg/sào Bắc bộ và có thể thay thế từ 50-100% lượng phân ure và phân lân. Với rau ăn lá, việc sử dụng phân vi sinh có thể giảm được 50% phân hóa học, các loại rau ăn củ có thể thay thế được 70% và có thể thay thế 100% phân hóa học đối với các loại cây ăn quả. Đối với cây cảnh, bà con nên trộn 1kg phân vi sinh với 2-3 kg đất để bón cho 10 chậu cây và cần giữ ẩm để phân vi sinh phát huy tác dụng.

SonSonBio

Thứ Năm, 27 tháng 10, 2016

Hoa Tiên Khách Lai

Danh pháp khoa học: Cyclamen persicum (Họ Trân châu- Primulaceae)
Cây còn được biết đến với cái tên Hoa Anh Thảo, Tiên hồng Ba Tư, Cây hoa lật, Hoa Tai thỏ, Hải đường Rau cải.

Về hình thái, cây có lá hình tim ,màu lục thẫm, có ánh bạc ở giữa. Hoa có màu hồng, đỏ, hồng cam, tím, trắng,… tùy giống. Cánh hoa trơn láng. Hoa mọc trên những cuống dài màu hồng nhạt, cánh hoa trông gần như bẻ gập xuống sát với cuống hoa. Một đặc điểm nhận biết khá đặc thù của giống hoa này là lá có các đốm hình móng ngựa rất đặc biệt, chúng được các nhà thực vật học cho là một dạng ngụy trang để giảm khả năng bị động vật gặm nhấm ăn.

Mùa ra hoa: mùa thu, mùa đông và đầu xuân. Hoa sống tới 4- 6 tuần ở những nơi có khí hậu mát và kín gió. Cây trồng bằng hạt hoặc trồng bằng củ hành, lấp đất phủ một nửa củ. Đây là một giống cây có chế độ ngủ hè, với các thân củ trên mặt đất hay mọc ngầm dưới đất, khi đến mùa mới sinh lá. Đây là một đặc điểm thích nghi tự nhiên với khí hậu hè khắc nghiệt của khu vực Địa Trung Hải nhằm tránh bị mất nước.

Giống hoa này có nguồn gốc từ khu vực Trung Đông và Địa Trung Hải. Cây ưa nắng dịu và bóng râm, đất ẩm vừa, không giữ nước, nhiều mùn, trung tính hoặc hơi chua, cần thường xuyên ngắt bỏ lá úa và hoa tàn.

Tiên khách lai được trồng làm cảnh trong chậu, trong phòng ẩm, ngoài vườn, công viên, … hoặc hoa cắm trong lọ cũng tươi được lâu. Củ anh thảo có thể xay thành bột làm bánh hoặc nuôi gia súc. Người ta quan niệm rằng Tiên khách lai mang ý nghĩa nhút nhát, thiếu tự tin vì nó chưa bao giờ hướng về phía Mặt Trời. Người xưa thì cho rằng trồng loài hoa này quanh nhà để tránh điềm gở. Trong phong thủy, người ta cho rằng, loài hoa này có thể chào đón khách quý và vận may đến nhà, và được xem là vua của các loài hoa trong chậu.

Phạm Ngọc Sơn

Thứ Tư, 26 tháng 10, 2016

Hoa Anh Đào

Danh pháp khoa học: Cerasus vulgaris L. (Họ Hoa Hồng- Rosaceae)
Về hình thái hoa, cây có 3 màu hoa chủ yếu là trắng, hồng hoặc đỏ,  có 5 cánh; nhị nhiều, là bội số của 5; quả hình tim, màu đỏ nhạt; sau khi nở từ 7- 15 ngày, hoa mới bắt đầu tàn. Tuy  nhiên, nhờ biện pháp lai giống, người ta có thể tạo ra nhiều chủng hoa anh đào chỉ cho hoa mà không tạo quả, đặc biệt là chủng hoa anh đào được trồng phổ biến ở Nhật Bản. Những cây này rất sai hoa và hoa có cánh kép chứ không phải chỉ có 5 cánh so với giống nguyên thủy.

Ra hoa chủ yếu vào mùa xuân (tháng 4- 5 vùng ôn đới), kết quả vào đầu mùa hạ. Kết quả từ tháng 3, đạt năng suất cao nhất từ năm thứ 5 và có thể sống tới khoảng 30- 40 năm. Năng suất quả cho 30- 50 kg/ha tùy giống và tuổi. Sống ở Bắc bán cầu, phổ biến nhất ở Nhật; ngại đất đầm lầy hoặc đất sét; nhân giống chủ yếu bằng cách ghép cành, cây sống cách nhau khoảng 2- 5 m.

Hoa anh đào được xem là biểu tượng của xứ Phù Tang. Còn theo ngôn ngữ của nhà Phật thì anh đào là biểu tượng của sự vô thường. Ở Nhật Bản, người ta xem hoa anh đào là loài hoa biểu trưng cho sự mong manh, trong trắng, cho sắc đẹp kiêu sa, đài các của người phụ nữ. Đối với những người có tuổi,  hình ảnh chùm hoa anh đào đẹp đẽ còn gửi đến con người thông điệp về cuộc sống, chúng ta không thể mạnh khi đứng một mình, hình ảnh này biểu dương cho một sức mạnh tập thể. “Hoa anh đào không thể đẹp nếu đứng một mình”.

Vài năm trở lại đây, hoa anh đào đã được trồng nhiều ở Đà Lạt, Đã Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Hà Nội,… để phục vụ cho thú vui chơi hoa, ngắm hoa ngày Tết của nhân dân.

“Nếu là hoa, xin làm hoa anh đào. Nếu là người, xin làm một võ sĩ đạo”


Phạm Ngọc Sơn

Thứ Ba, 25 tháng 10, 2016

Hoa Ác- ti- sô

Danh pháp khoa học: Cynura scolymus L. (Họ Cúc- Asteraceae)
Về hình thái, đây là một loài cây lá gai lâu năm, có một cuống dài mang cụm hoa trên đế nạc gồm nhiều lá bắc màu lục nhạt, mọng nước. Cụm hoa gồm nhiều hoa hình ống màu lam tím, khi chín sẽ nở tung thành một khối xốp hình hoa thị trên đỉnh. Quả bế nhẵn với các tơ trắng dài. Hoa nở quanh năm ở 20- 250C. Gốc Địa Trung Hải, trồng nhiều ở châu Âu, Ấn Độ, An- giê- ri, … Cây Ác- ti- sô đã được người Hy Lạp cổ và La Mã cổ trồng để lấy hoa làm rau ăn. Chiều cao trung bình của cây từ 1.5- 2 m, lá dài từ 50- 80 cm.

Ban đầu, cây mọc khá hoang dại, nhưng đến giữa thế kỷ 15, cây được trồng lần đầu ở Naples, sau đó nửa thập kỷ mới được du nhập vào Pháp, Hà Lan và Anh. Thế kỷ 19, cây được đem đến Mỹ trên những đoàn thuyền buôn nhỏ. Cuối cùng, hoa được người Pháp di thực vào Việt Nam đã một thế kỷ, nay được trồng nhiều ở Lâm Đồng, Sa Pa, Tam Đảo, Hải Hưng, Nghệ An. Đây không phải là một loài hoa bản địa nên cũng dễ hiểu khi nó không có tên tiếng Việt tương ứng. Cái tên “Ác- ti- sô” của người Việt bắt nguồn từ tên tiếng Pháp “artichaut”.


Hoa và búp được hái làm rau tươi, nấu canh hầm với thịt, gan, ăn rất bổ. Hoa chứa 3% đạm, 10- 16% đường đơn, dùng rất tốn cho bệnh nhân tiểu đường; giúp tiêu hóa tốt, giảm cholesterol trong máu, bảo vệ gan, thận,…

Phạm Ngọc Sơn

Thứ Hai, 24 tháng 10, 2016

Hoa Thanh Anh

Danh pháp khoa học: Agapanthus umbella L’Her (Họ Hành- Alliaceae)
Còn được gọi là hoa A- ga- băng, Huệ sông Nile. Hoa được xem là biểu tượng cho tình yêu cao thượng, theo tiếng Hy Lạp, tên của loài hoa này có nghĩa là “Tình yêu” (αγαπη). 

Mặc dù được gọi là Huệ sông Nile và được trồng làm cảnh trong các vườn hoa tại Vương quốc Anh, nhưng Thanh Anh lại có nguồn gốc Nam Phi, phủ dài trên diện tích từ Mũi Hảo Vọng đến bờ phía Nam sông Limpopo.

Về đặc điểm hình thái, Agapanthus có cuống hoa cứng và dài từ 0.7- 1m, trên ngọn có một chùm hoa (tán kép), gồm 50- 100 hoa màu xanh lơ, có vằn xanh đậm, hoặc trắng, tía, tùy vào giống, có mùi thơm nhẹ. Hoa Thanh Anh thường được trồng trong chậu qua nhiều năm, cứ sau 1- 2 năm lại thay chậu một lần. Trồng ngoài trời vào các tháng 4- 5. Nở hoa khi được 1- 2 tuổi, từ cuối xuân đến đầu hạ (tháng 6- 7) có khi cả đến đầu thu (cuối tháng 9). Khi trời trở rét, lá bắt đầu úa vàng, cần đưa vào chỗ kín gió và ấm (trong nhà kính) để trú đông.


Mặc dù là một loài cây có hoa rất đẹp và thường được trồng làm cảnh nhưng loài hoa này lại có khả năng sinh sản rất nhanh và cũng được xem là một loài sinh vật ngoại lai nguy hiểm. Các nhà làm vườn thường hạn chế sự lây lan của Agapanthus bằng cách cắt bỏ những đầu hoa sau khi hoa tàn để ngăn chặn sự hình thành hạt giống, và việc làm này cũng sẽ cung cấp cho Agapanthus cơ hội tốt nhất để lưu trữ năng lượng cho mùa hoa năm sau.



Phạm Ngọc Sơn

Thứ Hai, 17 tháng 10, 2016

Viên gạch dựng nên tiến hóa


Nếu bạn là một nhà sinh học, hay chí ít là đã từng học qua nó, hẳn bạn đã biết về thuyết tiến hóa của Charles Darwin, về những thay đổi về mặt hình thái để thích nghi tốt hơn với môi trường sống. Vậy bạn có bao giờ đặt ra câu hỏi những viên gạch đầu tiên gây nên các biến dị đó là gì? Là DNA? RNA? Hay Protein? Một nghiên cứu mới đây trên tạp chí Science đã giúp chúng ta hé lộ bức màn bí ẩn của câu hỏi này. Công trình được thực hiện bởi các nhà khoa học từ Viện Tin Sinh học Châu Âu (European Bioinformatics Institute-  EMBL- EBI) và trường Đại học Washington.

Theo Pedro Beltrao, trưởng nhóm nghiên cứu của EMBL- EBI, “nghiên cứu này nhằm giúp chúng ta hiểu về cách thức tiến hóa xảy ra, cách mà các loài thích nghi với sự thay đổi môi trường qua nhiều thế hệ”. “Ví dụ. khi bạn so sánh con người và tinh tinh, cả hai đều có những khác biệt rõ nét có thể dễ dàng nhận thấy, chính một phần nào đó trong bộ gen di truyền đã khiến chúng có những nét tương đồng và khác biệt như vậy. Nhiệm vụ của chúng tôi là chỉ ra cách thức mà sự đa dạng này được hình thành, từ đó, chúng ta sẽ nhìn thấy bức tranh về sự sống một cách rõ nét hơn. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng giúp chúng ta hiểu vì sao các loài thực vật và động vật có thể thích nghi và thay đổi, cũng như các tế bào ung thư hay vi khuẩn có thể kháng lại thuốc điều trị”.

Câu hỏi về sự biểu hiện

Nghiên cứu đi sâu vào sự đa dạng di truyền thông qua sự biểu hiện của các gen, từ đó nắm được cách thức một protein có thể được tạo thành, và sau đó là mô và các cơ quan trong cơ thể. Tuy nhiên, các nhà khoa học thấy rằng cơ chế giúp các protein bổ sung các chức năng mới đóng vai trò cực kỳ quan trọng.


Việc tạo thành protein này được điều khiển bằng các protein khác thông qua các biến đổi sau dịch mã (Post- Translational Modification- PTM). Và một loại PTM là sự phosphoryl hóa; một cơ chế nhanh chóng, điều hòa nhiều loại protein. Trong quá trình tiến hóa, các PTM có thể được hình thành thông qua các đột biến, đây là hiện tượng cho phép các protein có thêm chức năng mới hoặc làm mất các chức năng cũ không cần thiết. Các nghiên cứu trước đây đã so sánh các protein giữa các loài gần gũi với nhau nhằm tìm ra các đột biến, do đó các PTM không được coi là một nhân tố chính tạo nên sự đa dạng loài. Trong nghiên cứu mới này, nhóm tác giả đã phát hiện ra rằng chỉ cần một số ít các đột biến thôi cũng đủ làm thay đổi các vị trí biến đổi protein này. Nói theo cách khác, chỉ với một số đột biến nhỏ cũng có thể làm thay đổi toàn bộ cách thức vận hành của tế bào hay cách thức protein được tạo thành.


Thay đổi bền vững

Sử dụng các phương pháp thực nghiệm và tính toán, các nhà khoa học đã tái hiện lại lịch sử tiến học của các vị trí phosphoryl hóa, các biến đổi điều khiển các protein, ở 18 loài đơn bào. Chúng xác định được các điểm điều khiển này tồn tại cách đây bao lâu, khi chúng chưa biến đổi một cách nhanh chóng qua hàng triệu năm.

Đa số các điểm phosphoryl hóa có quan hệ khá gần gũi trong tiến hóa, hay nói cách khác, chúng chỉ ra một số điểm khác nhau đặc trưng giữa các loài, từ đó phát triển lên thành sự đa dạng tiến hóa.

“Nếu các loài cần thích nghi với các thử thách mới, chúng cần tạo nên sự đa dạng thông qua rất nhiều thế hệ mà chỉ một số ít trong số đó còn sống sót. Một cách khiến lý thuyết này trở thành hiện thực là thông qua các thay đổi về biểu hiện gen, nhưng sự thay đổi trong quá trình phosphoryl hóa là hiệu quả nhất”.

Ung thư: kẻ bẻ khóa chuyên nghiệp

Sự đa dạng được tạo nên từ các PTM là một điểm quan trọng và rất mới mẻ trong nghiên cứu ung thư. Nhiều loại thuốc điều trị ung thư ngăn cản tế bào u hình thành và phát triển thông qua việc khóa các chu trình tín hiệu của tế bào mà hiệu quả nhất là khóa các protein “cửa ngõ”. Nhưng, thông qua các đột biến, các tế bào ung thư đã tìm ra cách tạo ra một PTM mới và các điểm tín hiệu truyền hiệu quả khác thông qua việc thử hàng triệu loại “khóa” khác nhau. Đa số các chìa khóa này là vô dụng nhưng chỉ cần một chiếc hiệu quả thì ngay lập tức, các tế bào u có thể tiếp tục sinh sôi trở lại, hay vô hiệu hóa hiệu quả của thuốc.

“Nghiên cứu sâu hơn về chức năng của PTM trong tiến hóa còn giúp các nhà khoa học ngày nay hoàn thiện hơn bức tranh về các protein tín hiệu cũng như cách thức thông tin được truyền đi trong tế bào”. “Đồng thời nó cũng mở ra một con đường mới trong nghiên cứu y học”.- Pedro Beltrao.

Phạm Ngọc Sơn


Nguồn tham khảo

Studer RA, et al: “Evolution of protein phosphorylation across 18 fungal species”, Science, October 2016 DOI: 10.1126/science.aaf2144