Thứ Năm, 27 tháng 10, 2016

Hoa Tiên Khách Lai

Danh pháp khoa học: Cyclamen persicum (Họ Trân châu- Primulaceae)
Cây còn được biết đến với cái tên Hoa Anh Thảo, Tiên hồng Ba Tư, Cây hoa lật, Hoa Tai thỏ, Hải đường Rau cải.

Về hình thái, cây có lá hình tim ,màu lục thẫm, có ánh bạc ở giữa. Hoa có màu hồng, đỏ, hồng cam, tím, trắng,… tùy giống. Cánh hoa trơn láng. Hoa mọc trên những cuống dài màu hồng nhạt, cánh hoa trông gần như bẻ gập xuống sát với cuống hoa. Một đặc điểm nhận biết khá đặc thù của giống hoa này là lá có các đốm hình móng ngựa rất đặc biệt, chúng được các nhà thực vật học cho là một dạng ngụy trang để giảm khả năng bị động vật gặm nhấm ăn.

Mùa ra hoa: mùa thu, mùa đông và đầu xuân. Hoa sống tới 4- 6 tuần ở những nơi có khí hậu mát và kín gió. Cây trồng bằng hạt hoặc trồng bằng củ hành, lấp đất phủ một nửa củ. Đây là một giống cây có chế độ ngủ hè, với các thân củ trên mặt đất hay mọc ngầm dưới đất, khi đến mùa mới sinh lá. Đây là một đặc điểm thích nghi tự nhiên với khí hậu hè khắc nghiệt của khu vực Địa Trung Hải nhằm tránh bị mất nước.

Giống hoa này có nguồn gốc từ khu vực Trung Đông và Địa Trung Hải. Cây ưa nắng dịu và bóng râm, đất ẩm vừa, không giữ nước, nhiều mùn, trung tính hoặc hơi chua, cần thường xuyên ngắt bỏ lá úa và hoa tàn.

Tiên khách lai được trồng làm cảnh trong chậu, trong phòng ẩm, ngoài vườn, công viên, … hoặc hoa cắm trong lọ cũng tươi được lâu. Củ anh thảo có thể xay thành bột làm bánh hoặc nuôi gia súc. Người ta quan niệm rằng Tiên khách lai mang ý nghĩa nhút nhát, thiếu tự tin vì nó chưa bao giờ hướng về phía Mặt Trời. Người xưa thì cho rằng trồng loài hoa này quanh nhà để tránh điềm gở. Trong phong thủy, người ta cho rằng, loài hoa này có thể chào đón khách quý và vận may đến nhà, và được xem là vua của các loài hoa trong chậu.

Phạm Ngọc Sơn

Thứ Tư, 26 tháng 10, 2016

Hoa Anh Đào

Danh pháp khoa học: Cerasus vulgaris L. (Họ Hoa Hồng- Rosaceae)
Về hình thái hoa, cây có 3 màu hoa chủ yếu là trắng, hồng hoặc đỏ,  có 5 cánh; nhị nhiều, là bội số của 5; quả hình tim, màu đỏ nhạt; sau khi nở từ 7- 15 ngày, hoa mới bắt đầu tàn. Tuy  nhiên, nhờ biện pháp lai giống, người ta có thể tạo ra nhiều chủng hoa anh đào chỉ cho hoa mà không tạo quả, đặc biệt là chủng hoa anh đào được trồng phổ biến ở Nhật Bản. Những cây này rất sai hoa và hoa có cánh kép chứ không phải chỉ có 5 cánh so với giống nguyên thủy.

Ra hoa chủ yếu vào mùa xuân (tháng 4- 5 vùng ôn đới), kết quả vào đầu mùa hạ. Kết quả từ tháng 3, đạt năng suất cao nhất từ năm thứ 5 và có thể sống tới khoảng 30- 40 năm. Năng suất quả cho 30- 50 kg/ha tùy giống và tuổi. Sống ở Bắc bán cầu, phổ biến nhất ở Nhật; ngại đất đầm lầy hoặc đất sét; nhân giống chủ yếu bằng cách ghép cành, cây sống cách nhau khoảng 2- 5 m.

Hoa anh đào được xem là biểu tượng của xứ Phù Tang. Còn theo ngôn ngữ của nhà Phật thì anh đào là biểu tượng của sự vô thường. Ở Nhật Bản, người ta xem hoa anh đào là loài hoa biểu trưng cho sự mong manh, trong trắng, cho sắc đẹp kiêu sa, đài các của người phụ nữ. Đối với những người có tuổi,  hình ảnh chùm hoa anh đào đẹp đẽ còn gửi đến con người thông điệp về cuộc sống, chúng ta không thể mạnh khi đứng một mình, hình ảnh này biểu dương cho một sức mạnh tập thể. “Hoa anh đào không thể đẹp nếu đứng một mình”.

Vài năm trở lại đây, hoa anh đào đã được trồng nhiều ở Đà Lạt, Đã Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Hà Nội,… để phục vụ cho thú vui chơi hoa, ngắm hoa ngày Tết của nhân dân.

“Nếu là hoa, xin làm hoa anh đào. Nếu là người, xin làm một võ sĩ đạo”


Phạm Ngọc Sơn

Thứ Ba, 25 tháng 10, 2016

Hoa Ác- ti- sô

Danh pháp khoa học: Cynura scolymus L. (Họ Cúc- Asteraceae)
Về hình thái, đây là một loài cây lá gai lâu năm, có một cuống dài mang cụm hoa trên đế nạc gồm nhiều lá bắc màu lục nhạt, mọng nước. Cụm hoa gồm nhiều hoa hình ống màu lam tím, khi chín sẽ nở tung thành một khối xốp hình hoa thị trên đỉnh. Quả bế nhẵn với các tơ trắng dài. Hoa nở quanh năm ở 20- 250C. Gốc Địa Trung Hải, trồng nhiều ở châu Âu, Ấn Độ, An- giê- ri, … Cây Ác- ti- sô đã được người Hy Lạp cổ và La Mã cổ trồng để lấy hoa làm rau ăn. Chiều cao trung bình của cây từ 1.5- 2 m, lá dài từ 50- 80 cm.

Ban đầu, cây mọc khá hoang dại, nhưng đến giữa thế kỷ 15, cây được trồng lần đầu ở Naples, sau đó nửa thập kỷ mới được du nhập vào Pháp, Hà Lan và Anh. Thế kỷ 19, cây được đem đến Mỹ trên những đoàn thuyền buôn nhỏ. Cuối cùng, hoa được người Pháp di thực vào Việt Nam đã một thế kỷ, nay được trồng nhiều ở Lâm Đồng, Sa Pa, Tam Đảo, Hải Hưng, Nghệ An. Đây không phải là một loài hoa bản địa nên cũng dễ hiểu khi nó không có tên tiếng Việt tương ứng. Cái tên “Ác- ti- sô” của người Việt bắt nguồn từ tên tiếng Pháp “artichaut”.


Hoa và búp được hái làm rau tươi, nấu canh hầm với thịt, gan, ăn rất bổ. Hoa chứa 3% đạm, 10- 16% đường đơn, dùng rất tốn cho bệnh nhân tiểu đường; giúp tiêu hóa tốt, giảm cholesterol trong máu, bảo vệ gan, thận,…

Phạm Ngọc Sơn

Thứ Hai, 24 tháng 10, 2016

Hoa Thanh Anh

Danh pháp khoa học: Agapanthus umbella L’Her (Họ Hành- Alliaceae)
Còn được gọi là hoa A- ga- băng, Huệ sông Nile. Hoa được xem là biểu tượng cho tình yêu cao thượng, theo tiếng Hy Lạp, tên của loài hoa này có nghĩa là “Tình yêu” (αγαπη). 

Mặc dù được gọi là Huệ sông Nile và được trồng làm cảnh trong các vườn hoa tại Vương quốc Anh, nhưng Thanh Anh lại có nguồn gốc Nam Phi, phủ dài trên diện tích từ Mũi Hảo Vọng đến bờ phía Nam sông Limpopo.

Về đặc điểm hình thái, Agapanthus có cuống hoa cứng và dài từ 0.7- 1m, trên ngọn có một chùm hoa (tán kép), gồm 50- 100 hoa màu xanh lơ, có vằn xanh đậm, hoặc trắng, tía, tùy vào giống, có mùi thơm nhẹ. Hoa Thanh Anh thường được trồng trong chậu qua nhiều năm, cứ sau 1- 2 năm lại thay chậu một lần. Trồng ngoài trời vào các tháng 4- 5. Nở hoa khi được 1- 2 tuổi, từ cuối xuân đến đầu hạ (tháng 6- 7) có khi cả đến đầu thu (cuối tháng 9). Khi trời trở rét, lá bắt đầu úa vàng, cần đưa vào chỗ kín gió và ấm (trong nhà kính) để trú đông.


Mặc dù là một loài cây có hoa rất đẹp và thường được trồng làm cảnh nhưng loài hoa này lại có khả năng sinh sản rất nhanh và cũng được xem là một loài sinh vật ngoại lai nguy hiểm. Các nhà làm vườn thường hạn chế sự lây lan của Agapanthus bằng cách cắt bỏ những đầu hoa sau khi hoa tàn để ngăn chặn sự hình thành hạt giống, và việc làm này cũng sẽ cung cấp cho Agapanthus cơ hội tốt nhất để lưu trữ năng lượng cho mùa hoa năm sau.



Phạm Ngọc Sơn

Thứ Hai, 17 tháng 10, 2016

Viên gạch dựng nên tiến hóa


Nếu bạn là một nhà sinh học, hay chí ít là đã từng học qua nó, hẳn bạn đã biết về thuyết tiến hóa của Charles Darwin, về những thay đổi về mặt hình thái để thích nghi tốt hơn với môi trường sống. Vậy bạn có bao giờ đặt ra câu hỏi những viên gạch đầu tiên gây nên các biến dị đó là gì? Là DNA? RNA? Hay Protein? Một nghiên cứu mới đây trên tạp chí Science đã giúp chúng ta hé lộ bức màn bí ẩn của câu hỏi này. Công trình được thực hiện bởi các nhà khoa học từ Viện Tin Sinh học Châu Âu (European Bioinformatics Institute-  EMBL- EBI) và trường Đại học Washington.

Theo Pedro Beltrao, trưởng nhóm nghiên cứu của EMBL- EBI, “nghiên cứu này nhằm giúp chúng ta hiểu về cách thức tiến hóa xảy ra, cách mà các loài thích nghi với sự thay đổi môi trường qua nhiều thế hệ”. “Ví dụ. khi bạn so sánh con người và tinh tinh, cả hai đều có những khác biệt rõ nét có thể dễ dàng nhận thấy, chính một phần nào đó trong bộ gen di truyền đã khiến chúng có những nét tương đồng và khác biệt như vậy. Nhiệm vụ của chúng tôi là chỉ ra cách thức mà sự đa dạng này được hình thành, từ đó, chúng ta sẽ nhìn thấy bức tranh về sự sống một cách rõ nét hơn. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng giúp chúng ta hiểu vì sao các loài thực vật và động vật có thể thích nghi và thay đổi, cũng như các tế bào ung thư hay vi khuẩn có thể kháng lại thuốc điều trị”.

Câu hỏi về sự biểu hiện

Nghiên cứu đi sâu vào sự đa dạng di truyền thông qua sự biểu hiện của các gen, từ đó nắm được cách thức một protein có thể được tạo thành, và sau đó là mô và các cơ quan trong cơ thể. Tuy nhiên, các nhà khoa học thấy rằng cơ chế giúp các protein bổ sung các chức năng mới đóng vai trò cực kỳ quan trọng.


Việc tạo thành protein này được điều khiển bằng các protein khác thông qua các biến đổi sau dịch mã (Post- Translational Modification- PTM). Và một loại PTM là sự phosphoryl hóa; một cơ chế nhanh chóng, điều hòa nhiều loại protein. Trong quá trình tiến hóa, các PTM có thể được hình thành thông qua các đột biến, đây là hiện tượng cho phép các protein có thêm chức năng mới hoặc làm mất các chức năng cũ không cần thiết. Các nghiên cứu trước đây đã so sánh các protein giữa các loài gần gũi với nhau nhằm tìm ra các đột biến, do đó các PTM không được coi là một nhân tố chính tạo nên sự đa dạng loài. Trong nghiên cứu mới này, nhóm tác giả đã phát hiện ra rằng chỉ cần một số ít các đột biến thôi cũng đủ làm thay đổi các vị trí biến đổi protein này. Nói theo cách khác, chỉ với một số đột biến nhỏ cũng có thể làm thay đổi toàn bộ cách thức vận hành của tế bào hay cách thức protein được tạo thành.


Thay đổi bền vững

Sử dụng các phương pháp thực nghiệm và tính toán, các nhà khoa học đã tái hiện lại lịch sử tiến học của các vị trí phosphoryl hóa, các biến đổi điều khiển các protein, ở 18 loài đơn bào. Chúng xác định được các điểm điều khiển này tồn tại cách đây bao lâu, khi chúng chưa biến đổi một cách nhanh chóng qua hàng triệu năm.

Đa số các điểm phosphoryl hóa có quan hệ khá gần gũi trong tiến hóa, hay nói cách khác, chúng chỉ ra một số điểm khác nhau đặc trưng giữa các loài, từ đó phát triển lên thành sự đa dạng tiến hóa.

“Nếu các loài cần thích nghi với các thử thách mới, chúng cần tạo nên sự đa dạng thông qua rất nhiều thế hệ mà chỉ một số ít trong số đó còn sống sót. Một cách khiến lý thuyết này trở thành hiện thực là thông qua các thay đổi về biểu hiện gen, nhưng sự thay đổi trong quá trình phosphoryl hóa là hiệu quả nhất”.

Ung thư: kẻ bẻ khóa chuyên nghiệp

Sự đa dạng được tạo nên từ các PTM là một điểm quan trọng và rất mới mẻ trong nghiên cứu ung thư. Nhiều loại thuốc điều trị ung thư ngăn cản tế bào u hình thành và phát triển thông qua việc khóa các chu trình tín hiệu của tế bào mà hiệu quả nhất là khóa các protein “cửa ngõ”. Nhưng, thông qua các đột biến, các tế bào ung thư đã tìm ra cách tạo ra một PTM mới và các điểm tín hiệu truyền hiệu quả khác thông qua việc thử hàng triệu loại “khóa” khác nhau. Đa số các chìa khóa này là vô dụng nhưng chỉ cần một chiếc hiệu quả thì ngay lập tức, các tế bào u có thể tiếp tục sinh sôi trở lại, hay vô hiệu hóa hiệu quả của thuốc.

“Nghiên cứu sâu hơn về chức năng của PTM trong tiến hóa còn giúp các nhà khoa học ngày nay hoàn thiện hơn bức tranh về các protein tín hiệu cũng như cách thức thông tin được truyền đi trong tế bào”. “Đồng thời nó cũng mở ra một con đường mới trong nghiên cứu y học”.- Pedro Beltrao.

Phạm Ngọc Sơn


Nguồn tham khảo

Studer RA, et al: “Evolution of protein phosphorylation across 18 fungal species”, Science, October 2016 DOI: 10.1126/science.aaf2144